Nghi thức cúng tế trong Lễ Thượng Điền đình Bình Thủy – Thành Phố Cần Thơ

Bài viết của Hồ Huỳnh Hoàng Mai, học viên ngành Dân tộc học khóa 2010-2012, đã được trình bày tại Hội thảo Khoa học Trẻ 2013 do Trường ĐHKHXH&NV-TP.HCM tổ chức.

I. Dẫn nhập:

Từ bao đời nay, đình là hình ảnh thân quen, gắn bó với tâm hồn của người Việt, là nơi chứng kiến những sinh hoạt và đổi thay trong đời sống xã hội của làng quê Việt Nam. Đình là nơi thờ Thần Thành hoàng, vị chỉ huy tối cao của làng xã về mặt tinh thần. Thần có thể bao quát, chứng kiến toàn bộ đời sống của dân làng, bảo vệ, phù hộ cho dân làng làm ăn phát đạt, mạnh khỏe. Trong năm, ở đình người dân tổ chức rất nhiều lễ hội, vừa là dịp để thể hiện sự tôn kính và cầu mong sự che chở từ Thần Thành hoàng, lòng biết ơn “Uống nước nhớ nguồn” với những thế hệ đi trước đã có công với làng xã, vừa là dịp để người dân sinh hoạt văn hóa, vui chơi.

Tại thành phố Cần Thơ, đình Bình Thủy là ngôi đình cổ nổi tiếng do lịch sử lâu đời, được xây dựng lần đầu vào năm 1844 và lần xây dựng thứ ba hoàn thành vào năm 1911, Sắc Thần được vua Tự Đức phong vào ngày 29 tháng 11 âm lịch năm thứ 15 (Nhâm Tuất 1862)[1].Đình cũng đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1989. Chu kỳ lịch lễ tại đình Bình Thủy được thực hiện đều đặn và chặt chẽ, trong đó quan trọng nhất là Lễ Thượng điền vì mỗi năm đình đều kết hợp thực hiện cùng lúc cả lễ Thượng điền và lễ Kỳ yên. Lễ Thượng điền ở đình làng được nhân dân tổ chức xuất phát từ nhu cầu tâm lý gắn liền với nền sản xuất nông nghiệp lúa nước. Theo tín ngưỡng, nhân dân trước khi bắt đầu công việc gì mang tính chất quan trọng đều cầu khấn Thần linh phù hộ cho mọi việc được suôn sẻ, hoặc cảm tạ Thần linh đã phù hộ cho công việc đạt kết quả mỹ mãn. Lễ Thượng điền được tổ chức là để cảm tạ Thần Thành hoàng đã ban cho công việc đồng áng của người nông dân được suôn sẻ. Lễ Kỳ Yên và Thượng điền là hai trong các nghi thức cúng đình quan trọng trong năm ở một ngôi đình Nam bộ. Tuy tính chất khác nhau (Thượng điền: cúng cảm tạ vụ mùa; Kỳ yên: cúng cầu an), nhưng đều là lễ tế cầu mong trời đất, Thành hoàng làng phù hộ “quốc thái dân an, phong điều vũ thuận”. Điểm đặc biệt ở đình Bình Thủy là người dân đã kết hợp cả hai nghi lễ nông nghiệp quan trọng là Kỳ yên và Thượng điền lại, vừa mang mục đích cầu an, vừa cảm tạ Thần thánh sau một vụ mùa và được diễn ra từ ngày 12 đến rạng sáng ngày 15 tháng 4 âm lịch hàng năm. Nội dung của bài viết là kết quả của quá trình quan sát, tìm hiểu, tham khảo và miêu tả lại các nghi thức cúng tế diễn ra trong một kỳ lễ Thượng điền ở đình Bình Thủy. Nó không chỉ mang ý nghĩa về mặt tín ngưỡng tâm linh, mà còn thể hiện một nét đẹp văn hóa rất đặc biệt của cư dân gốc nông nghiệp lúa nước.

II. Nội dung:

Lịch trình Lễ Thượng điền đình Bình Thủy cố định hàng năm như sau:

* Ngày 12/4 âm lịch:

3 giờ: Lễ đưa Sắc Thần đi du ngoạn

5 giờ 45 phút: Lễ Tế Thần Nông

7 giờ: Tiếp rước quan khách

10 giờ 30: Mời dùng cơm trưa thân mật

12 giờ: Lễ thay khăn Sắc Thần

14 giờ: Lễ Xây chầu đại bội

15 giờ: Hát tuồng cổ

20 giờ - 2 giờ ngày 13/4: Hát tuồng cổ

* Ngày 13/4 âm lịch:

7 giờ: Lễ Tế Bàn Soạn

15 giờ: Hát tuồng cổ

20 giờ - 2 giờ ngày 14/4: Hát tuồng cổ

* Ngày 14/4 âm lịch:

2 giờ: Lễ Túc Yết

15 giờ - 17 giờ: Hát tuồng cổ

20 giờ - 2 giờ ngày 15/4: Hát tuồng cổ

* Ngày 15/4 âm lịch:

2 giờ: Lễ Chánh Tế

5 giờ: Lễ Tôn Vương

5 giờ 15 phút: Lễ Tế Sơn Quân

5 giờ 30 phút: Lễ Tống Khách

1. Lễ đưa Sắc Thần đi du ngoạn:

Ở các ngôi đình Nam Bộ, nghi thức diễn ra đầu tiên trong lễ Kỳ yên là nghi thức thỉnh Sắc (tương ứng với thỉnh Sắc, kết thúc kỳ lễ sẽ là nghi thức hồi Sắc). Theo tìm hiểu của tôi, trước đây vì lý do chiến tranh, Sắc Thần không có trong đình nên nghi thức đầu tiên trong kỳ lễ là “Lễ thỉnh Sắc Thần”. Những năm kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mĩ, vì lý do an toàn người dân đã đưa Sắc Thần về chùa Nam Nhã tạm thờ, sau là đưa về nhà riêng của một vị chức sắc trong đình cất giữ. Vì vậy mỗi lần đến Lễ Thượng điền, các hương chức hội tề và nhân dân tại tổ chức “Lễ thỉnh Sắc Thần” về đình để thực hiện các nghi lễ, sau đó lại đưa về nơi tạm thờ. Sau chiến tranh, đất nước hòa bình, cuộc sống người dân yên ổn, mọi người đã làm lễ đưa Sắc Thần về đình thờ cúng như trước. Do vậy ngày nay, “Lễ thỉnh Sắc Thần” không còn nữa mà thay vào đó là “Đưa Sắc Thần đi du ngoạn” vùng đất làng mà Thần bảo hộ.

Nghi thức được mở đầu bằng tiếng trống, kèn, chiêng nổi lên rộn rã. Từ ngoài cổng đình, bốn con lân trắng, xanh, vàng, đỏ - loài vật biểu hiện cho sự thái bình, theo tiếng kèn trống bước vào chính điện, đến múa xung quanh bàn thờ chính thờ Thần Thành hoàng. Hai vị chánh tế và phó tế cùng các chức sắc trong áo dài gấm trang trọng quỳ trước bàn thờ Thần, xin thỉnh Sắc Thần đưa ra xe long phượng. Sau đó, bốn học trò lễ thỉnh ngai Sắc Thần cùng đoàn người tuần tự bước ra sân, đưa Sắc Thần lên xe rồng tán phượng đã chuẩn bị đầy đủ rượu trà, nhang đèn và một mâm ngũ quả.

Sắc Thần được đưa đi dọc theo tỉnh lộ 918, đến Miễu Ông – Xuân Trường thì quay trở về đình. Đây là cột mốc vùng đất Thần Thành hoàng cai quản. Hai bên đường hầu như các nhà dân đều sáng đèn. Trước cửa nhà nào cũng đều có một mâm thờ nhỏ với nhang đèn, trái cây, trà rượu hoặc hai trái dừa để cúng Thần. Qua mấy chục năm sau chiến tranh, làng Long Tuyền xưa giờ đã là quận Bình Thủy nhộn nhịp và phát triển. Người dân sinh hoạt buôn bán tấp nập, số hộ làm ruộng trồng vườn không nhiều như xưa nhưng hàng năm người ta vẫn đều đặn tổ chức Lễ Thượng điền. Tín ngưỡng thờ Thần Thành hoàng là chỗ dựa tinh thần cho con người nơi làng quê xoa dịu tâm hồn mỗi khi họ gặp phải mất mát đau thương, củng cố niềm tin nơi cộng đồng về cuộc sống bình yên được Thần thánh bảo trợ. Đây cũng là sợi dây liên kết những con người có chung tín ngưỡng gần nhau hơn, biết thương yêu giúp đỡ nhau trong cuộc sống đời thường. Yếu tố siêu nhiên ở đây đã thực hiện hoàn hảo chức năng liên kết và tạo ra những giá trị tinh thần tốt đẹp cho con người.

Sau Lễ đưa Sắc Thần đi du ngoạn, khi đoàn xe rước Sắc trở về đình là Lễ an vị Sắc Thần. Hai vị chánh tế và phó tế đi trước, vị chánh tế bưng bát hương, vị phó tế tay cầm đôi đèn cầy cháy đỏ, tiếp đến là các học trò lễ - hai người mặc áo vàng cầm lọng, phía sau là hai người mặc áo đỏ cầm đèn, cuối cùng là hai người mặc áo đỏ cung kính khiêng ngai Thần, trong có để Sắc Thần từ từ tiến vào đình, các vị chức sắc cao niên theo sau. Mọi người làm Lễ an vị Sắc Thần, đưa Sắc Thần trở về vị trí cũ. Lễ an vị gồm một tuần hương, ba tuần rượu, một tuần trà.

2. Lễ tế Thần Nông:

Nghi thức cúng Thần Nông là một trong những nghi thức quan trọng trong lễ Thượng điền, vì Việt Nam là đất nước nông nghiệp nên vị Thần Nông là vị thần quan trọng được nhân dân làm lễ thờ cúng ngay trong ngày đầu tiên của kỳ lễ.

Đồ cúng Thần Nông cũng là những sản phẩm nông nghiệp: Bộ “tam sanh” (hay còn gọi là “tam sên”) gồm heo, dê, ngỗng; nhang đèn, rượu và xôi đậu. Mở đầu có ba con lân đi theo ông Địa đến nhảy múa trước cửa miếu, với tính chất như “xông miếu”. Trước khi cúng, trống lớn, mõ, chiêng đổ liên hồi trong chính điện, sau đó ban nhạc lễ ngồi trước miếu sẽ tấu lên một bài nhạc cúng Thần. Các vị chức sắc trong đình thực hiện nghi lễ theo sự hướng dẫn của vị Hương văn. Trong quá trình cúng lễ, vị Hương văn này cũng sẽ là người phụ trách việc đọc văn tế dâng Thần.

3. Lễ thay khăn Sắc Thần:

Sắc Thần vua ban được bọc trong tấm vải điều mà người dân hay gọi là vải tây đỏ. Việc thay khăn do vị trưởng đình phụ trách và mỗi năm sẽ thay mới tấm khăn này. Lễ thay khăn Sắc Thần diễn ra khá nhanh nhưng rất long trọng vì ý nghĩa to lớn của Sắc Thần. Thờ Thần là việc vô cùng thiêng liêng. Trong tín ngưỡng thờ Thần của người Nam bộ còn có một khía cạnh khác nhằm tôn vinh các vị Thần, làm cho các vị trở nên linh thiêng hơn - đó là việc phong Sắc cho Thần. Công việc này do triều đình phong kiến thực thi. Do đó, sắc phong của triều đình cho vị Thần nào cũng đồng nghĩa với việc xem vị Thần đó là cơ sở pháp lý phụng mệnh nhà vua xuống làm thần quyền của làng xã. Sắc phong được để ở nơi trang trọng nhất, đặt trên ngai thờ. Ở mỗi đình làng, gian chính điện là nơi thiêng liêng nhất, thường ghi những chữ “Thánh thọ vô cương”, “Thánh cung vạn tuế” với ý nghĩa là quyền uy nhà vua ngự trị ở nơi thiêng liêng nhất của làng và đó cũng là nơi để Sắc Thần.

4. Lễ Xây chầu đại bội:

Lễ Xây chầu đại bội ở đình Bình Thủy là sự kết hợp giữa Lễ Xây chầu và Lễ Đại bội.

Nghi thức Xây chầu được tiến hành trước sân đình. Trước giờ xây chầu, người xây chầu phải đặt trống chầu theo hướng đại lợi là hướng tốt nhất trong một năm. Sau khi đặt trống chầu theo hướng đại lợi rồi, mặt trống chầu sẽ được che bằng khăn đỏ với ý nghĩa là che thái cực vì trước khi có thái cực là hỗn mang. Khi hành lễ, viên chấp sự đến trước bàn thờ Thần làm Lễ thỉnh chầu mang ra trước sân đình. Khi thỉnh được dùi trống, viên chấp sự sẽ đến trước giá trống thực hiện Lễ tẩy uế cho dùi trống. Sau đó ông giở khăn đỏ che mặt trống ra, bắt đầu đánh nhẹ ba lần trống gọi là “kích cổ”; sau đó thì bắt đầu đánh ba hồi trống mạnh dồn dập, hồi thứ nhất ít hơn hồi thứ hai, hồi thứ hai ít hơn hồi thứ ba với ý nghĩ trước ít sau nhiều, “tiền bần hậu phú”, cầu xin cho dân làng càng ngày càng giàu thịnh[2]. Sau khi đánh xong ba hồi trống, viên chấp sự sẽ lên đình đặt lại dùi trống trước bàn thờ Thần. Trong thời gian đó, trưởng đình cùng ông bầu gánh hát bưng khai trầu rượu xuống nhà võ ca gần bến sông thỉnh Tổ hát bội ra sân khấu. Lễ Đại bội do các đào kép trong gánh hát bội trình diễn.

Lễ Đại bội cũng được thực hiện trước sân đình ngay sau Lễ Xây chầu.

Các giai đoạn diễn ra trong Lễ Đại bội đi theo sự vận chuyển trong vũ trụ: Thái cực, lưỡng nghi, tam tài, tứ tượng, ngũ hành, bát quái; thể hiện trong ý nghĩa từng bài múa Khai Thiên Tịch Địa, Nhật – Nguyệt, Phước – Lộc – Thọ, Tứ thiên vương, Lễ Đứng Cái, Bát Tiên hiến thọ và một lễ phụ Gia quan tấn tước. Trong các nghi lễ của Lễ Kỳ yên Thượng điền, nghi thức Đại bội có lẽ là gần gũi và cuốn hút người dân nhất. Tuy biểu tượng cho Thái cực – Lưỡng nghi nhưng những lời lẽ trong nghi lễ nói lên những lời cầu chúc trường thọ, phát đạt, mưa thuận gió hòa. Nhìn đào kép say sưa múa hát người dân Bình Thủy như nhìn thấy được những gì đẹp đẽ nhất mà họ luôn khao khát mong mỏi và cố gắng phấn đấu thực hiện để đạt được nó.

5. Lễ Bàn Soạn:

Các nghi thức tuần tự như sau:

- Củ soát lễ vật

- Tuần hương

- Tuần rượu thứ nhất

- Đọc văn tế

- Tuần rượu thứ hai

- Tuần rượu thứ ba

- Tuần trà

Đầu tiên các học trò lễ sẽ đi ba vòng quanh dãy bàn thờ chính tính từ phía cửa vào, nơi đặt bàn thờ Phó thần Đinh Công Chánh đến bàn thờ chính thờ Thần Thành hoàng, mỗi người đều cầm đèn cầy cháy đỏ và đi trong tiếng trống kèn được thổi liên tục từ phía ban nhạc lễ, gọi là “đi dàn xà”. Mỗi lần đến trước bàn thờ Thần Thành hoàng, họ sẽ vái một vái rồi quay người đi trở ra cửa. Đi dàn xà gồm mười sáu học trò lễ được chia đều thành hai hàng song song, đi đầu là bốn học trò lễ mặc áo dài đỏ, tiếp đến là tám vị mặc áo dài vàng, sau cùng là bốn vị mặc áo dài xanh. Sau khi học trò lễ đi dàn xà xong, ban nhạc lễ sẽ mang trống chầu, kèn, mõ ra trước bàn thờ ông Đinh Công Chánh thổi một bài nhạc dâng Thần, trong lúc đó có một viên chấp sự đốt ba bát nhang trầm để dưới chân bàn thờ ông Đinh Công Chánh. Sau đó các vị chức sắc trong đình, gồm chánh bái (là trưởng đình, áo dài gấm vàng, khăn đóng), bồi bái (là phó đình, áo dài gấm xanh dương, khăn đóng) quỳ trước bàn thờ ông Đinh Công Chánh, xung quanh là bốn học trò lễ mặc áo dài đỏ quỳ chầu. Trước mặt chánh bái và bồi bái là một chậu nước và một cái khăn với ý nghĩa “tẩy uế”. Hai vị chấp sự này trước khi tiến hành lễ cúng sẽ nhúng tay vào chậu nước để lau mặt, xem như là đã được tẩy đi những điều “ô uế” trong đời sống thường, trở nên thanh sạch để tiếp xúc với Thần linh. Ngoài ra có một vị cao niên quỳ ở bàn thờ linh vật bên trái, một vị quỳ ở bàn thờ linh vật bên phải của bàn thờ ông Đinh Công Chánh được gọi là Đông Hiến, Tây Hiến, xung quanh là bốn học trò lễ mặc áo dài vàng quỳ chầu. Các vị quỳ lại trong sự hô bái của Hương văn – người phụ trách phần nghi lễ. Đầu tiên là nghi thức dâng hương (Tuần hương). Các học trò lễ chia thành hai hàng ngang song song gồm sáu người đi trước cầm đèn, sáu người đi sau có ba người cầm đèn, ba người nhận bát trầm hương từ tay các vị chức sắc, đi theo nhịp trống từ phía ban nhạc lễ. Cứ thế tiến dần từ bàn thờ ông Đinh Công Chánh đến bàn thờ Ngũ vị nương nương, rồi đến bàn thờ Thần Thành hoàng. Ở đây sẽ có người chịu trách nhiệm nhận bát hương từ học trò lễ đem lên để dưới chân bàn thờ Hậu thần và Tả Bang, Hữu bang. Sau đó các học trò lễ sẽ quay về đứng ở phía bàn thờ ông Đinh Công Chánh.

Tiếp theo Tuần hương là Tuần rượu, gồm có ba lần dâng rượu. Tuần rượu được tiến hành trước bàn thờ của Ngũ vị nương nương. Tương tự như Tuần hương, mười hai học trò lễ đi thành hai hàng, mỗi hàng sáu vị. Trong đó sáu vị đi trước cầm đèn, sáu vị đi sau trên tay cầm đèn và chung rượu đã được rót đầy bởi chánh bái, bồi bái và Đông Hiến, Tây Hiến lúc này đã từ bàn thờ Phó Thần Đinh Công Chánh tiến lên quỳ trước bàn thờ Ngũ vị nương nương trong suốt ba tuần rượu. Khi các học trò lễ tiến đến trước bàn thờ Thần Thành hoàng, họ sẽ xoay một vòng thay đổi vị trí hàng thứ nhất cầm đèn lùi lại phía sau để hàng thứ hai tiến lên. Tại đây có một vị chấp sự đứng chờ sẵn nhận lấy các chung rượu từ tay học trò lễ dâng lên bàn thờ Thần. Sau lần dâng rượu đầu, các học trò lễ sẽ ngừng lại, chờ Hương văn đọc sớ trước bàn thờ Ngũ vị nương nương, rồi dâng tiếp hai tuần rượu nữa.

Sau Tuần rượu là Tuần trà, nghi thức tiến hành cũng giống như Tuần rượu.

Cuối cùng là nghi thức đốt văn tế. Hai học trò lễ mặc áo dài đỏ, một người cầm sớ mà khi nãy vị Hương văn đã đọc, một người cầm đèn đi theo từng nhịp trống từ bàn thờ Ngũ vị nương nương tiến đến trước bàn thờ Thần Thành hoàng, thực hiện nghi thức đốt sớ. Lễ tế chấm dứt. Chánh bái, bồi bái quỳ lạy Thần ba lạy rồi xuống trước, sau đó mười sáu học trò lễ quỳ lạy ba lạy rồi xuống sau là xem như hoàn tất buổi Lễ Bàn Soạn.

6. Lễ Túc Yết:

Quy trình diễn ra Lễ Túc Yết cũng khá giống với Lễ Bàn Soạn. Hai điều khác biệt mà tôi nhận thấy là nghi thức Túc Yết bắt đầu ngay trước bàn thờ Ngũ vị nương nương, các vị chức sắc trong đình không phải làm lễ trước bàn thờ Phó thần Đinh Công Chánh, và vị Hương văn đọc sớ sau khi kết thúc cả ba tuần rượu chứ không phải là tuần rượu đầu tiên như ở Lễ Bàn Soạn. Theo lời giải thích của nhiều người tham gia Lễ Thượng điền mà tôi có dịp phỏng vấn (bồi bái, học trò lễ, phó bếp), Lễ Bàn Soạn và Túc Yết nghi thức phần lớn là giống nhau nhưng khác về mặt ý nghĩa. Bàn Soạn là quá trình hương chức hội tề, dân làng tụ họp lại với nhau để bàn bạc, phân công công việc và trình Thần về việc sẽ tổ chức lễ tại đình. Còn Túc Yết là để nghênh Thần.

7. Lễ Chánh Tế:

Đây là nghi thức quan trọng nhất trong các nghi thức cúng đình được tổ chức vào kỳ lễ Thượng điền. Về hình thức Lễ Chánh Tế diễn ra khá giống Lễ Bàn Soạn và Túc Yết, người ngoài khó có thể phân biệt được sự khác nhau giữa các buổi lễ. Tuy nhiên, về tính chất Lễ Chánh Tế vô cùng quan trọng, đòi hỏi quá trình thực hiện phải diễn ra hoàn thiện. Nghi thức của hai buổi lễ trước có thể diễn ra khá nhanh, và có thể “du di” cho một số thiếu sót nhỏ như nếu có vài vị chức sắc trong đình vì có việc bận mà vắng mặt. Nhưng ở Lễ Chánh Tế, các nghi thức diễn ra vô cùng chậm và kỹ lưỡng, không cho thiếu sót điều gì dù là nhỏ nhặt. Đây là lễ chính cúng Thần trong kỳ lễ Thượng điền với mục đích tạ Thần, cũng là buổi lễ cúng cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ đã vì quốc vong thân, cúng Tiền hiền, Hậu hiền – những người có công lập ấp dựng xã, mở mang đất đai, mang lại bình yên no ấm cho dân làng.

8. Lễ Tôn Vương:

Ngay sau khi lễ Chánh Tế kết thúc là nghi thức tiến hành lễ Tôn Vương, cũng là nghi thức hồi chầu kết thúc ba ngày đêm hát bội. Đây là nghi thức mà diễn viên hát bội cùng với các vị trong ban tế tự đình cùng nhau thực hiện. Trong quyển Đình Nam Bộ xưa và nay của Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường được xuất bản năm 1999, Lễ Tôn Vương và Lễ hồi chầu được thực hiện tuần tự trước sau riêng biệt và có nhiều nghi thức. “Nó biểu hiện ý nghĩa trung thắng nịnh, phe chính thắng phe tà. Thông thường vở được chọn là tuồng San Hậu. Vở tuồng được xây dựng theo công thức “Vua băng – Nịnh tiếm – Bà thứ lên chùa – Chém nịnh – Định đô – Tôn vương – Tức vị”. Đây là vở tuồng mà nội dung của nó hàm chứa những nét cơ bản nhất của cuộc tranh bá đồ vương của nhà Nguyễn từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII. Điều này đã chỉ ra ý nghĩa tôn vinh đương triều của nghi thức Tôn Vương này”[3]. Và “Lễ Hồi chầu được diễn ra trong ngày sau khi tuồng hát bội diễn để cử hành nghi thức Tôn vương chấm dứt. Lễ này có ý nghĩa là dân làng trình với Thần Thành hoàng ba phiên hát chầu đã chấm dứt”[4]. Hiện nay, ở Đình Bình Thủy, Lễ Tôn Vương và nghi thức hồi chầu được thực hiện gọn nhẹ và nhanh chóng hơn nhưng vẫn giữ nguyên ý nghĩa của nó. Lễ Tôn Vương được thực hiện bởi một kép trong đoàn hát đóng vai vua, đến trước bàn thờ Thần dâng ấn kiếm với ý nghĩa đã được tôn vương, nhà vua cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa cho ruộng đồng tươi tốt, cũng như cầu mong Thần Thành hoàng luôn chở che, phù hộ cho con dân của Thần được bình yên, có cuộc sống sung túc hạnh phúc. Đồng thời khi Lễ Tôn vương kết thúc cũng xem như hồi chầu kết thúc ba ngày đêm hát bội.

9. Lễ Tế Sơn Quân:

Sau Lễ Tôn Vương là Lễ tế Sơn Quân – tức lễ cúng ông Hổ được thực hiện ở miếu Sơn Quân bên phải chính điện. Đội nhạc lễ mở đầu buổi lễ tế bằng một chầu nhạc dâng Thần, tiếp theo là lễ bái của trưởng đình, phó đình và các vị chức sắc cao niên. Cuối cùng, vị Hương văn đọc sớ và đốt sớ, xem như kết thúc nghi thức Lễ tế Sơn Quân. Trong quá trình Nam tiến, cư dân từ miền ngoài vào khai khẩn vùng đất hoang Nam bộ đã gặp không ít khó khăn. Nơi đây ngày xưa là chốn rừng xanh nước đỏ, thú dữ hoành hành, đặc biệt con hổ trong tâm thức người dân là loài vật vừa dữ tợn vừa thiêng liêng. Vì vậy hầu hết ở mỗi đình làng Nam bộ đều có miếu thờ Sơn Quân hay còn gọi là miếu thờ ông Hổ, với mục đích cầu mong thần núi rừng chứng cho tấm lòng thành kính của người dân mà ban cho họ cuộc sống bình yên không thiên tai địch họa, không thú dữ hoành hành. Tín ngưỡng dân gian của người Việt thờ rất nhiều hiện tượng cũng như loài vật trong tự nhiên, với tâm niệm “vạn vật hữu linh”, “có thờ có thiêng”. Những hiện tượng ẩn chứa sức mạnh trong tự nhiên hay những loài vật có sức mạnh đe dọa đến đời sống con người, khiến con người sợ hãi là họ sẽ thờ tự. Việc thờ Thần Núi, Thần Hổ cũng bắt nguồn từ tâm niệm đó.

10. Lễ Tống Khách:

Lễ Tống khách là nghi thức cuối cùng hoàn tất lễ Kỳ yên Thượng điền đình Bình Thủy. Lễ Tống Khách (còn được gọi là “Tống gió”, “Tống phong”, “Tống ôn”) được thực hiện nhanh gọn và đơn giản. Vị chánh bếp nam bưng đầu heo, trái cây, nhang đèn ra để bên đường trước cổng đình rồi quay mặt đi vào đình không ngoái lại. Đầu heo, trái cây đó để cho người vãng lai qua đường, ai muốn lấy thì lấy. Lễ Tống Khách trong cúng đình khá giống lễ cúng “cô hồn” tháng bảy âm lịch trong tín ngưỡng dân gian của người Việt. Trong những ngày cúng đình dân làng đã mời Thần thánh về chứng giám, cũng như mời cả những vong hồn cõi âm, những người đã khuất, ông bà tổ tiên cùng về dự lễ. Nay là lúc phải có nghi thức tiễn họ quay về, chính là Lễ Tống Khách. Lễ này tuy đơn giản nhưng không thể không có, chỉ khi nào thực hiện xong thì xem như kỳ lễ cúng đình mới thực sự hoàn tất.

IV. Kết luận:

Lễ Thượng điền đình Bình Thủy như một dấu ấn sinh hoạt mang đậm bản sắc tín ngưỡng dân gian của người dân đất Cần Thơ, minh chứng cho truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của nhân dân, cao hơn nữa là tinh thần tự hào dân tộc. Trong dịp lễ Thượng điền, tất cả cùng nhớ về ông bà tổ tiên, thế hệ đi trước chuyển giao văn hóa cho thế hệ đi sau, liên kết cộng đồng. Bởi thế, lễ hội ở đình có ý nghĩa rất thiêng liêng, có sức cộng cảm và trở thành nét văn hóa đặc sắc trong cộng đồng. Lễ Thượng điền đình Bình Thủy là cầu nối tâm linh giữa những con người cùng sống trên mảnh đất làng này, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa ở làng xã, bảo tồn những vốn quý của văn hóa tinh thần dân tộc. Đó là điều đáng trân trọng cần được bồi dưỡng. Trong xã hội với tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh, người dân Cần Thơ vẫn giữ vững vẻ đẹp truyền thống, linh thiêng cổ kính của ngôi đình và năm tháng trôi qua ngôi đình vẫn gắn chặt với đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần, tín ngưỡng của nhân dân. Con người Cần Thơ, nhất là người con đất Bình Thủy gắn niềm tự hào và ký ức của mình về quê hương qua rất nhiều hình ảnh, trong đó họ đặt ngôi đình Bình Thủy nằm ở một vị trí trang trọng trong trái tim. Ai đi xa nhớ về quê hương, cũng thường nghĩ về nơi đó – nơi mái đình cổ kính một trăm mấy chục năm tuổi gắn với bao thăng trầm của vùng đất Tây Đô, gắn với những ngày lễ hội truyền thống mang đậm văn hóa tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng, trong đó có Lễ Kỳ yên Thượng điền được tổ chức vào giữa tháng tư âm lịch hàng năm./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Huỳnh Minh, Cần Thơ xưa và nay, NXB - Tổng phát hành Cánh Bằng, 1966.

2. Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Đình Nam Bộ xưa và nay, NXB. Đồng Nai, 1999.



[1] Huỳnh Minh, 1966, Cần Thơ xưa và nay, Nhà xuất bản – Tổng phát hành Cánh Bằng, trang 145.

[2] Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, 1999, Đình Nam Bộ xưa và nay, NXB. Đồng Nai, trang 219.

[3] Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, 1999, Đình Nam Bộ xưa và nay, NXB. Đồng Nai, trang 242.

[4] Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, 1999, Đình Nam Bộ xưa và nay, NXB. Đồng Nai, trang 244.

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.