Vai trò phụ nữ Xtiêng: truyền thống và biến đổi

Vai trò của người phụ nữ Xtiêng theo chế độ mẫu hệ rất quan trọng điều này được thể hiện rõ trong việc họ được tự do lựa chọn trong hôn nhân và khi đã có chồng, phụ nữ Xtiêng vẫn đóng vai trò quyết định các việc trong gia đình. Tuy nhiên, hiện nay do quá trình cộng cư đã xảy ra sự giao lưu, tiếp biến văn hóa với các dân tộc khác theo chế độ phụ hệ và hôn nhân ngoại tộc khiến vai trò người phụ nữ Xtiêng Bù đéc có nhiều thay đổi.


(Nghiên cứu trường hợp: xã Thiện Hưng, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước)

Luận văn của học viên cao học Chu Phạm Minh Hằng, Khóa 2009-2012

Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Khắc Cảnh

DẪN LUẬN

1. Lý do, mục đích nghiên cứu đề tài:

Bình Phước là một tỉnh thuộc Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk và Campuchia; phía Nam giáp tỉnh Bình Dương; phía Đông giáp tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai, phía Tây giáp Tây Ninh và Campuchia. Bình Phước có diện tích tự nhiên 6.854 km2, dân số hơn 800.000 người bao gồm 41 dân tộc như: Kinh, Xtiêng, Khmer, Tày, Nùng, Hoa, Mường, H.Mông, Chăm… trong đó, người Xtiêng được xem là cư dân bản địa, sinh sống từ rất lâu đời tại tỉnh Bình Phước. Theo phân loại của các nhà nghiên cứu, người Xtiêng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer với hai nhóm địa phương được chia theo vùng cư trú: núi cao (Bù lơ) và đồng bằng (Bù đéc).

Trong quá trình công tác, tôi đã có dịp đi điền dã, tiếp cận đối với hai nhóm địa phương người Xtiêng và nhận thấy rằng: tuy cùng là người Xtiêng nhưng giữa hai nhóm có nhiều khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa mà nổi bật nhất là cách thức tổ chức gia đình dòng họ: người Xtiêng Bù lơ theo chế độ phụ hệ, còn người Xtiêng Bù đéc theo chế độ mẫu hệ - sự khác biệt rõ ràng này tạo nên nét đặc sắc, thú vị trong văn hóa tộc người Xtiêng và đã gây cho tôi sự quan tâm đối với vấn đề này mà đặc biệt là sự biến đổi về vai trò người phụ nữ. Vai trò của người phụ nữ Xtiêng theo chế độ mẫu hệ rất quan trọng điều này được thể hiện rõ trong việc họ được tự do lựa chọn trong hôn nhân và khi đã có chồng, phụ nữ Xtiêng vẫn đóng vai trò quyết định các việc trong gia đình. Tuy nhiên, hiện nay do quá trình cộng cư đã xảy ra sự giao lưu, tiếp biến văn hóa với các dân tộc khác theo chế độ phụ hệ và hôn nhân ngoại tộc khiến vai trò người phụ nữ Xtiêng Bù đéc có nhiều thay đổi. Trên cơ sở đó cộng với lĩnh vực quan tâm nghiên cứu là những vấn đề về Giới, bình đẳng giới chính là lý do khiến tôi quyết định lựa chọn “Vai trò phụ nữ Xtiêng: truyền thống và biến đổi” làm đề tài thực hiện luận văn nhằm tìm hiểu và làm rõ về vai trò phụ nữ Xtiêng bù đéc trong gia đình và xã hội đặt trong so sánh giữa truyền thống – biến đổi. Đối tượng nghiên cứu chính là phụ nữ Xtiêng bù đéc mà cụ thể là Vai trò (chức năng, ảnh hưởng) người phụ nữ Xtiêng theo chế độ mẫu hệ trong sự vận động và phát triển của gia đình và nhóm cộng đồng Xtiêng bù đéc – vai trò này thường ít được đề cập hoặc chỉ được nhắc đến một cách mờ nhạt trong các tài liệu trình bày về hôn nhân gia đình người Xtiêng.

Đề tài thực hiện với các mục đích sau:

1. Tìm hiểu vị thế của người phụ nữ Xtiêng Bù đéc thông qua việc khảo sát, mô tả đời sống vật chất, tinh thần của họ. Từ đó, nhận diện vai trò (chức năng, ảnh hưởng) của người phụ nữ Xtiêng trong gia đình nói riêng và trong cộng đồng người Xtiêng nói chung hiện nay.

2. So sánh về vai trò người phụ nữ Xtiêng đã thay đổi như thế nào theo thời gian và không gian. Từ đó tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi vị thế xã hội của người phụ nữ Xtiêng trong chế độ mẫu hệ đồng thời phân tích sự biến đổi này đã tác động như thế nào (tích cực và hạn chế) đến đời sống của người phụ nữ Xtiêng, đến hộ gia đình và rộng hơn là đến cộng đồng người Xtiêng đang sinh sống tại xã Thiện Hưng, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước.

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của người phụ nữ Xtiêng Bù đéc trong đời sống gia đình và cộng đồng theo chế độ mẫu hệ, cụ thể là ảnh hưởng và chức năng của người phụ nữ Xtiêng trong các mặt của đời sống gia đình và cộng đồng: sinh học, vật chất, tinh thần.

- Khách thể nghiên cứu: phụ nữ Xtiêng Bù đéc độ tuổi từ 16 trở lên, không phân biệt về trình độ học vấn, mức sống, tình trạng hôn nhân… để tìm hiểu nhìn nhận của chính bản thân phụ nữ về sự thay đổi vai trò của mình. Ngoài ra, phỏng vấn nam giới để có thêm những đánh giá về sự biến đổi vai trò phụ nữ.

- Phạm vi nghiên cứu:

· Về thời gian nghiên cứu: Trong đề tài này, tôi chọn mốc thời gian năm 1986 trước đổi mới là truyền thống và từ sau 1986 là hiện nay. Sở dĩ tôi chọn mốc thời gian này vì đây là khoảng thời gian chia tách về mặt không gian giữa hai địa bàn cư trú của người Xtiêng – từ một thành hai khu vực cư trú sinh sống như hiện nay. Bên cạnh đó, năm 1986 là năm đổi mới của xã hội Việt Nam về nhiều mặt, tuy không tác động trực tiếp đến người Xtiêng nhưng cũng đã có một số ảnh hưởng nhất định đến đời sống của họ.

· Về không gian: xã Thiện Hưng, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước với hai cộng đồng Xtiêng. Hai cộng đồng này trước đây vốn cùng sinh sống tại khu vực chợ Thiện Hưng (hiện nay thuộc thôn 2), đến năm 1986 theo chính sách của Đảng và Nhà nước chia tách thành hai khu vực cư trú. Trong quá trình hình thành và phát triển, hai cộng đồng đã tạo nên những đặc tính riêng biệt: Thôn Thiện Cư: thôn mới thành lập năm 1986, là khu vực sinh sống của 170 hộ gia đình Xtiêng – chiếm tỉ lệ 98% dân số. Đây là một khu vực khá biệt lập, chưa bị ảnh hưởng nhiều của đô thị hóa, người Xtiêng sống tập trung và thường có nhiều hoạt động văn hóa tinh thần mang đậm tính văn hóa. Cư dân sống chủ yếu là làm rẫy. Hình thức sinh hoạt giải trí tinh thần chủ yếu là xem tivi, nghe đài phát thanh, chơi bóng đá, bóng chuyền. Thôn 7: trước 1986 đã có một vài hộ người Xtiêng sinh sống nhưng với sự sinh sống đan xen của người Xtiêng và người Việt. Số hộ Xtiêng ở khu vực này chỉ 65 hộ, sinh sống rải rác tại các ngôi nhà bán kiên cố, sâu trong các vườn điều. Công việc chính là làm rẫy, ngoài ra họ còn đi làm thuê.

3. Câu hỏi và giả thiết nghiên cứu:

- Câu hỏi nghiên cứu: Vai trò của người phụ nữ Xtiêng trong chế độ mẫu hệ như thế nào? Ngày nay vai trò đó có sự thay đổi ra sao so với truyền thống?

- Giả thiết nghiên cứu:

Từ những câu hỏi nghiên cứu như trên, chúng tôi đã xây dựng một số giả thiết nghiên cứu chính để kiểm chứng thông qua quá trình thu thập và xử lý thông tinnhư sau:

· Người phụ nữ Xtiêng trong chế độ mẫu hệ truyền thống là người đóng vai trò quyết định mọi công việc trong gia đình.

· Hiện nay vai trò của người phụ nữ Xtiêng đã có nhiều biến đổi do tác động bởi nhiều nguyên nhân bên ngoài tác động vào như: tôn giáo, chính sách của nhà nước, kinh tế và các yếu tố xuất phát từ bản thân người phụ nữ như: trình độ học vấn, nghề nghiệp, độ tuổi, vị thế xã hội…

· Sự thay đổi về vai trò này đã góp phần xóa bỏ bất bình đẳng cho phụ nữ trong chế độ mẫu hệ.

4. Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình thực hiện luận văn, ngoài thời gian nghiên cứu tiền trạm, tôi đã tiến hành 3 đợt nghiên cứu điền dã tại địa bàn vào các thời điểm khác nhau trong năm như lúc nông nhàn (05/2010), thời điểm thu hoạch vụ mùa và thời gian tổ chức lễ hội cộng đồng (tháng 1/2011; 08/2012). Trung bình mỗi đợt điền dã từ 10-15 ngày tại địa bàn nghiên cứu. Để thu thập các thông tin phục vụ đề tài, tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp để có hiệu quả cao nhất, có thể kể đến một số phương pháp, mục đích sử dụng và hiệu quả thu được như sau:

Phương pháp quan sát – tham dự là phương pháp chính được tiến hành chủ yếu trong đề tài này vì qua việc quan sát sẽ giúp chúng ta thấy được những biểu hiện cụ thể về vị trí người phụ nữ trong gia đình được đặt trong bối cảnh nghiên cứu, trong sự tương quan giữa hai giới, trong những hoàn cảnh cụ thể với những mối quan hệ cụ thể… Với việc áp dụng “ba cùng” – cùng ăn, cùng ở, cùng làm với gia đình người phụ nữ Xtiêng qua các đợt điền dã, tôi đã có những thông tin về vai trò người phụ nữ trong gia đình thông qua những hành vi, cách ứng xử với các thành viên trong gia đình, thời gian đầu tư cho các công việc trong gia đình, việc giáo dục và nuôi dưỡng con cái… tư liệu tuy không thông qua việc phỏng vấn sâu nhưng là những tư liệu có ý nghĩa chân thực vì nó phản ánh cụ thể cuộc sống hàng ngày của người phụ nữ trong gia đình – những thông tin đặc biệt quan trọng cho nội dung chương 3 về thực trạng vai trò người phụ nữ nhất là trong điều kiện việc chưa thông hiểu tiếng Xtiêng như chúng tôi thì quan sát thái độ, hành vi, cách cư xử cũng là một cách thức để thu thập thông tin.

Phỏng vấn sâu: tiến hành thực hiện đối với cả nam giới và nữ giới, nhằm tìm hiểu các vấn đề thuộc về quan niệm như: hình mẫu/chuẩn mực về người phụ nữ/nam giới; chế độ mẫu hệ; vai trò phụ nữ trong gia đình… so sánh giữa truyền thống và hiện nay). Để dễ dàng thu thập được thông tin, nội dung phỏng vấn sâu được xây dựng theo một trình tự: khoảng thời gian xảy ra sự thay đổi về vai trò và những biểu hiện của nó như thế nào? Đánh giá của chính bản thân người dân cộng đồng về nguyên nhân thay đổi và tác động đến đời sống của họ. Tôi cũng đã chia các vấn đề ra thành nội dung cụ thể như: phân công lao động trong gia đình (làm việc nhà và hoạt động kinh tế khác); quyền quyết định các việc quan trọng trong gia đình, dòng họ; dạy dỗ và giáo dục con cái; ứng xử với các thành viên trong gia đình; khi tham gia các tổ chức buôn làng trong việc thực các nghi lễ, phong tục, tập quán… để cộng tác viên có thể dễ dàng hình dung sự biến đổi. Trong toàn bộ quá trình thu thập tư liệu, chúng tôi đã phỏng vấn hơn 50 lượt người (nam và nữ, khác nhau ở nhiều độ tuổi, trình độ học vấn…) với các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc phi cấu trúc và nhiều cuộc trò chuyện khác để tạo mối quan hệ tốt.

Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi: dùng để thu thập những thông tin “nền” về cộng đồng nghiên cứu nói chung và người phụ nữ nói riêng như: độ tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp... được so sánh trong tương quan hai giới (nam và nữ). Tổng số khảo sát là 120 trường hợp trong đó có 40 nam giới và 80 nữ giới với đối tượng chọn mẫu là mẫu cá nhân và cách thức chọn mẫu ngẫu nhiên không hệ thống. Phương pháp này không chỉ mang lại các chỉ báo, con số mà còn giúp tìm ra những cá nhân, các nhóm để tiến hành phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm… Khi tiến hành phương pháp này là vào vụ mùa thu hoạch nên đa phần người dân đều lên rẫy để canh, giữ và thu hoạch nông sản của mình vì vậy việc tìm và gặp các đối tượng phỏng vấn có một số khó khăn. Chúng tôi đã xin số điện thoại, điện thoại trước và vào tận rẫy của họ cách nhà từ ba đến năm kí lô mét đường đất đỏ để có thể phỏng vấn người dân.

Phương pháp thảo luận nhóm tập trung: phương pháp này được thực hiện nhằm tìm ra tiếng nói chung của một nhóm đại diện cho cộng đồng về một vấn đề nào đó. Chúng tôi đã thực hiện ba cuộc thảo luận nhóm với đối tượng là nữ thanh niên (từ 14 đến 22 tuổi) (2 cuộc) và phụ nữ (từ 40 đến 60 tuổi). Đối với nhóm nữ thanh niên, câu hỏi tập trung đến các vấn đề về quan niệm tình yêu, tiêu chí lựa chọn bạn đời, cách thức thể hiện tình cảm… Với nhóm phụ nữ, các câu hỏi liên quan đến sự giống nhau và khác nhau giữa chuẩn mực, quan niệm về người phụ nữ tốt trước kia so với hiện nay. Cả hai nhóm đều đã thảo luận về trường hợp: “sẽ làm gì nếu cha mẹ không thích, không đồng ý với sự lựa chọn bạn đời của con cái” – tuy chỉ là trường hợp giả định nhưng với những ý kiến thảo luận chúng tôi muốn tìm hiểu ảnh hưởng của gia đình trong việc lựa chọn bạn đời và có sự khác biệt, mâu thuẫn về quan niệm, cách ứng xử giữa hai thế hệ đối với vấn đề này hay không. Trên thực tế, trước khi thực hiện phương pháp này tôi đã nhìn nhận một vài khó khăn đó là hạn chế về ngôn ngữ và tâm lý e ngại bày tỏ ý kiến của các cá nhân tham gia thảo luận nhóm. Chính vì vậy, đối với nhóm nữ thanh niên tôi đã tập huấn, bàn bạc kỹ lưỡng để một bạn trong nhóm nghiên cứu có độ tuổi tương đương với các bạn nữ người Xtiêng. Đối với nhóm nữ thanh niên chúng tôi không quá khó khăn vì họ đều nói tiếng Việt tốt và cùng độ tuổi nên nhóm nữ thanh niên vui vẻ, cởi mở trao đổi ý kiến hơn. Riêng nhóm phụ nữ lớn tuổi (và một số đối tượng phỏng vấn sâu khác) việc giao tiếp bằng tiếng Việt gặp khó khăn nên chúng tôi đã tìm một người phiên dịch để giúp chuyển ngữ. Nhìn chung, đây là một thử nghiệm của chúng tôi nên vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục tuy nhiên các thông tin thu được khá hữu ích, phục vụ tốt cho luận văn.

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp so sánh đối chiếu: (đồng đại và lịch đại) cũng được thực hiện trong quá trình điền dã nhằm tiến hành so sánh ở các cộng đồng khác nhau để thấy những nét tương đồng và dị biệt trong bối cảnh văn hóa – lịch sử của một vùng. So sánh đồng đại để thấy được những yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội tác động như thế nào đến hai cộng đồng Xtiêng nói chung và vấn đề nghiên cứu nói riêng và việc đối chiếu lịch đại để thấy được những sự biến đổi của cộng đồng theo thời gian. Việc so sánh các giai đoạn phát triển khác nhau của chính đối tượng nghiên cứu để nhận ra những yếu tố được duy trì, kế thừa và những cái mới nảy sinh trong quá trình phát triển. Đây được xem là phương pháp đem lại nhiều hiệu quả trong quá trình so sánh nhằm giải thích các yếu tố tác động đến quá trình phát triển của cộng đồng nhất là đối với hai cộng đồng nghiên cứu (thôn Thiện Cư, và thôn 7) - vừa có những đặc điểm chung và riêng khá đặc biệt như đã nêu ở phần trên.

Phương pháp nghiên cứu lịch sử: phương pháp được thực hiện với mục đích tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng cư dân Xtiêng ở xã Thiện Hưng, huyện Bù Đốp để tìm ra những bước tiến triển và những yếu tố tác động đến sự thay đổi vai trò người phụ nữ. Đồng thời, với những tài liệu lịch sử thu thập được sẽ giúp chúng tôi phân tích và lý giải những vấn đề nghiên cứu được trong quá trình thực hiện điền dã.

5. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn:

Về khoa học: Hướng nghiên cứu sự vận động biến đổi của văn hóa cộng đồng tộc người là một hướng nghiên cứu đang được các nhà Dân tộc học, Nhân học áp dụng vì nó thể hiện được sự “ứng xử, thích nghi” của tộc người trước những tác động của điều kiện, hoàn cảnh mới. Đề tài tuy chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu vai trò của người phụ nữ Xtiêng: truyền thống - biến đổi và những nguyên nhân tác động đến sự biến đổi này nhưng hy vọng với kết quả nghiên cứu phần nào vẽ nên được bức tranh văn hóa tộc người trong bối cảnh mới. Đồng thời góp phần bổ sung hệ thống quan điểm lý thuyết về nghiên cứu phát triển cộng đồng, vấn đề giới và phát triển.

Về thực tiễn: những nhận định đánh giá từ kết quả nghiên cứu thu thập được sẽ góp phần vào nguồn tài liệu khoa học để các cơ quan quản lý, Hội phụ nữ, Ban Dân tộc các cấp, các tổ chức phi chính phủ có những chính sách, kế hoạch, chương trình hành động phù hợp để thúc đẩy bình đẳng giới, hỗ trợ sự phát triển giới, phát triển cộng đồng.

6. Bố cục của đề tài: Bố cục của luận văn ngoài phần Dẫn luận, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, bao gồm 3 chương:

Chương 1: Những tiền đề lý thuyết, tổng quan về cộng đồng người Xtiêng ở tỉnh Bình Phước và địa bàn nghiên cứu

Nội dung chương trình bày các vấn đề lý thuyết, giải thích các khái niệm và tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài. Chương một cũng bao gồm nội dung giới thiệu về người Xtiêng ở Bình Phước nói chung và khảo sát về người Xtiêng với hai khu vực cư trú khá khác nhau trong cùng xã Thiện Hưng, huyện Bù Đốp nói riêng – là đối tượng nghiên cứu chính của luận văn.

Chương 2: Vai trò người phụ nữ Xtiêng trong xã hội truyền thống

Khảo sát các hoạt động, chức năng cơ bản của gia đình để từ đó làm rõ vị thế, vai trò của người phụ nữ trong hoạt động kinh tế, quản lý gia đình, hôn nhân và sinh hoạt văn hóa của gia đình truyền thống người Xtiêng Bù đéc theo chế độ mẫu hệ.

Chương 3: Những biến đổi vai trò phụ nữ Xtiêng

Chương 3 gồm hai nội dung chính: khảo sát sự biến đổi về vai trò phụ nữ Xtiêng để từ đó đưa ra phân tích những nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi và đưa ra một số dự báo từ sự biến đổi này. (Toàn văn, vui lòng liên hệ Thư viện Trường ĐHKHXH&NV-Tp.HCM).

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.