Bạn làm gì với tấm bằng Nhân học

Nhân học là một ngành khoa học nghiên cứu một cách toàn diện về khía cạnh sinh học và văn hóa xã hội của nhân loại. Ngành học này sẽ trang bị cho sinh viên những kỹ năng như tư duy phản biện, trình bày các ý tưởng, cách viết rõ ràng và hiệu quả trong nhiều thể loại văn bản, kỹ năng thu thập và xử lý các thông tin dữ liệu, kỹ năng thâm nhập cộng đồng và nhiều kỹ năng khác được giảng dạy trong toàn bộ chương trình đào tạo. Sinh viên tốt nghiệp ngành Nhân học có nhiều lựa chọn nghề nghiệp trong nhiều lĩnh vực. 

1. Lịch sử hình thành, quy mô giảng viên, sinh viên và chương trình đào tạo của ngành nhân học

1.1. Lịch sử hình thành ngành nhân học

Khoa Nhân học được chính thức thành lập theo Quyết định số 111/QĐ-ĐHQG-TCCB do Giám đốc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh ký ngày 27/2/2008 trên cơ sở Bộ môn Nhân học ra đời năm 2002.

Trong mục tiêu phát triển, sứ mệnh được đặt ra cho Khoa Nhân học là chuyển đổi phương thức đào tạo từ ngành Dân Tộc học truyền thống sang ngành Nhân học theo phương thức mở rộng đối tượng và phạm vi nghiên cứu, trong đó nhấn mạnh đến việc đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về mặt khoa học và đào tạo.

Để thực hiện được mục tiêu trên, các thành viên của bộ môn Dân Tộc học mà sau này là Nhân học đã tích cực chuẩn bị mọi mặt. Trong đó, việc cử cán bộ du học sau đại học ở nước ngoài như Mỹ, Canada, cùng với việc mở các khóa học ngắn hạn về lý thuyết Nhân học, phương pháp nghiên cứu trong Nhân học tại Trường Đại học KHXH&NV do các Giáo sư danh tiếng nước ngoài đảm trách; tiến hành dịch tài liệu Nhân học và tham khảo chương trình đào tạo ngành Nhân học của các trường đại học danh tiếng nước ngoài… là những việc làm cụ thể để đạt được mục tiêu trên.

1.2. Quy mô giảng viên

Ngoài đội ngũ giảng dạy nhận bằng Tiến sĩ ở Liên xô và các nước Đông Âu cũ, Khoa Nhân học còn có thêm nhiều cán bộ lấy bằng Sau Đại học ở Mỹ, Canada, Nhật Bản, Đài Loan như Ngô Thị Phương Lan, Trương Thị Thu Hằng, Nguyễn Quang Dũng, Phạm Thanh Duy, Phạm Ngọc Thúy Vi ... Ngoài ra, các cán bộ lấy bằng Sau Đại học trong nước như Huỳnh Ngọc Thu, Trần Thị Thảo, Phạm Thanh Thôi… cũng có thời gian tu nghiệp chuyên sâu tại khoa Nhân học của các trường Đại học danh tiếng ở nước ngoài như Đại học Yale, Đại học Toronto, Đại học Nam Cali, Đại học Riverside… Hiện nay, đội ngũ giảng viên của Khoa Nhân học, gồm: 3 Phó Giáo sư tiến sĩ, 7 Tiến sĩ và 6 Thạc sĩ


1.3. Chương trình đào tạo

Trên cơ sở tham khảo chương trình đào tạo của hơn 20 trường đại học danh tiếng trên thế giới, kết hợp với chương trình đào tạo ngành Dân tộc học truyền thống ở Việt Nam, Khoa Nhân học đã có được chương trình đào tạo bậc đại học vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính hội nhập quốc tế. Những môn học mang tính hội nhập quốc tế như Lý thuyết Nhân học, Nhân học kinh tế, Nhân học du lịch, Nhân học phát triển, Nhân học tôn giáo, Nhân học ngôn ngữ, Nhân học Y tế, Các phương pháp nghiên cứu định tính – định lượng, Phát triển kỹ năng viết trong nghiên cứu Nhân học… Số tín chỉ của những môn học này chiếm gần ½ so với toàn bộ chương trình đào tạo chuyên ngành ở bậc đại học. Những môn học này đều do các giảng viên được đào tạo Sau Đại học ở nước ngoài đảm trách.

Hiện nay, chương trình đào tạo bậc cử nhân của ngành Nhân học được chia thành hai chuyên ngành: Nhân học phát triển và Nhân học văn hóa – xã hội.

2. Khối kiến thức được đào tạo và điểm mạnh của cư nhân khi tốt nghiệp tham gia vào thị trường lao động

2.1. Khối kiến thức được đào tạo

Sinh viên được đào tạo gồm các khối kiến thức và yêu cầu chuẩn đào tạo đạt được của từng khối gồm:

- Kiến thức đại cương: Đạt được chuẩn kiến thức cơ bản trình độ lý luận về cơ bản về triết học, lịch sử tư tưởng và đường lối cách mạng Việt Nam. Kiến thức đại cương làm nền tảng lý luận cho việc tiếp thu các khối kiến thức cơ sở ngành và chuyên ngành nâng cao ở các giai đoạn sau.

- Kiến thức cơ sở khối ngành: Đạt được chuẩn kiến thức cơ sở thuộc khối ngành với các môn khoa học cơ bản thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Kiến thức cơ sở khối ngành làm nền tảng kiến thức cho việc tiếp thu tri thức, khoa học cho các khối kiến thức cơ sở ngành nhân học.

- Kiến thức cơ sở ngành: Đạt được chuẩn kiến thức về lý luận và phương pháp nghiên cứu cơ sở ngành với hai nhóm khối kiến thức: Kinh tế - Văn hóa – xã hội  của các dân tộc ở Việt Nam và khu vực ; Kiến thức về lịch sử,  lý thuyết và phương pháp của ngành nhân học. Kiến thức cơ sở ngành làm nền tảng cho việc phát triển chuyên sâu vào các bộ môn chuyên ngành nhân học văn hóa xã hội và nhân học phát triển.

- Kiến thức chuyên ngành: Đạt chuẩn kiến thức chuyên sâu về ngành nhân học theo sự phân nhánh bộ môn: Nhân học văn hóa- xã hội và Nhân học phát triển. Sinh viên hoàn tất khối kiến thức này được trang bị đầy đủ khả năng lý luận và kiến thức chuyên môn cho các lĩnh vực nghề nghiệp liên quan đến nhân học, văn hóa, xã hội với các khả năng tư duy: tổng hợp và khái quát; phân tích, so sánh và phản biện.


2.2. Điểm mạnh của cử nhân khi tham gia vào thị trường lao động

Điểm mạnh của cử nhân ngành Nhân học khi tham gia vào thị trường lao động được biểu hiện cụ thể qua hai yếu tố quan trọng là kỹ năng và thái độ.

- Kỹ năng: Nắm vững và thực hành thông thạo các kỹ năng sau:

+ Kỹ năng nghiên cứu: Vận dụng thành thạo các phương pháp nghiên cứu trong nhân học như định tính, định lượng, xử lý thông tin hình ảnh… vào trong nghiên cứu khoa học. Sinh viên đạt chuẩn kỹ năng trong việc như: (1) Tự hình thành ý tưởng với các kỹ năng điểm luận, hình thành câu hỏi nghiên cứu, xây dựng giả thuyết và khung phân tích;  (2) Tổ chức triển khai chương trình/dự án nghiên cứu với các kỹ năng: Xây dựng đề cương, thiết kế công cụ nghiên cứu, thu thập và và xử lý dữ liệu và cuối cùng là viết báo cáo, phúc trình kết quả nghiên cứu thông qua các công trình nghiên cứu cụ thể.

+ Kỹ năng nghề nghiệp: Đạt chuẩn các kỹ năng để có thể làm việc độc lập và làm việc nhóm trên cơ sở thuần thực các kỹ năng như: hoạch định kế hoạch, hợp tác làm việc trong mội trường tập thể và có khả năng lãnh đạo trong công việc. Với các khả năng làm việc chuyên nghiệp trong các khung cảnh làm việc trong lĩnh cực nghiên cứu, giảng dạy và các lĩnh vực kinh tế, xã hội thực tiễn tại Việt Nam thông qua các kỹ năng: (1) Thuyết trình (trình bày và tranh luận), (2) Truyền thông (soạn thảo, biên tập tin bài, chụp hình quay phim và tổ chức sự kiện), (3) Tin học văn phòng (EXcel, MS Word, Powerpoint) và các phần mền phục vụ nghiên cứu (SPSS, Nvivo, Adobe Premiere, Family Tree Maker), (4) Ngoại ngữ (Tiếng Anh giao tiếp và Tiếng Anh chuyên ngành) và (5) Giao tiếp xã hội (văn hóa giao tiếp và tâm lý giao tiếp)

- Thái độ: Định hình và thể hiện những thái độ cơ bản:

+ Tôn trọng các nền văn hóa: Trên cơ sở tôn trong sự đa dạng và chấp nhận sự khác biệt. Một người theo ngành Nhân học đều phải học về những nền văn hóa khác và cách mà chúng có thể khác biệt với nền tảng văn hóa và kỳ vọng của người đó. Những khác biệt này không được xem như các vấn đề cần vượt qua, mà như những nguồn tư duy và cơ hội mới – một lợi thế nhất định trong thế giới hiện tại. Khi đã quen thuộc với một phạm vi rộng lớn những hành vi, niềm tin và giá trị, sinh viên có xu hướng trở nên nhạy cảm và linh hoạt hơn về mặt văn hóa trong ứng xử, không chỉ với đồng nghiệp hay khách hàng, mà cả với hàng xóm và cộng đồng. Những phẩm chất này cho phép người học sống và làm việc trong một thế giới ngày càng tăng cường tính đa văn hóa và đa dạng toàn cầu (increasingly multicultural and globa)

+ Trách nhiệm xã hội và đạo đức: Với các phảm chất thấu hiểu đời sống các cộng đồng xã hội từ đó hình thành trách nhiệm phục vụ cộng đồng, tuân giữ pháp luật và các nguyên tắc đạo đức xã hội (vị nhân sinh), đạo đức nghề nghiệp (trung thực và tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ).

3. Những hoạt động ngoại khóa của sinh sinh viên

Sinh viên của khoa Nhân học hiện nay có các câu lạc bộ như:

- Câu lạc bộ Truyền thông

-  Câu lạc bộ Kết nối nhân học

Đây là những câu lạc luôn hướng đến việc hoạt động ngoại khóa nhằm tăng khả năng trải nghiệm và sự tương tác của sinh viên. Cùng nhau trao đổi kinh nghiệm trong học thuật và kỹ năng mềm.

4. Thực tập - thực tế

Thực tập - thực tế là công việc quan trọng của sinh viên khoa Nhân học và được tổ chức thành 2 đợt cho mỗi khóa. Sinh viên phải đến với cộng đồng để tìm hiểu về đời sống văn hóa của họ nhằm có những trải nghiệm trong văn hóa và thực hiện các kỹ năng nghiên cứu. Mục đích của việc thực tập – thực tế là:

- Thực tập – thực tế lần 1: Sinh viên vận dụng kiến thức điền dã dân tộc học vào công tác thực địa và sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng vào việc thu thập và xử lý thông tin trên đối tượng nghiên cứu (cộng đồng cư dân cụ thể ) ở thực địa. Kết quả là sinh viên đạt được độ thuần thục về kỹ năng thu thập và xử lý thông tin trong điền dã dân tộc học. Kết của đợt thực tập này là sản phẩm của các phương pháp nghiên cứu như tập số liệu về bảng hỏi, biên bản gỡ băng từ các cuộc phỏng vấn sâu, nhật ký điền dã từ phương pháp quan sát tham dự, hình ảnh…

- Thực tập - thực tế lần 2: Mỗi sinh viên thực hiện một đề tài nghiên cứu độc lập và tiến hành đi điền dã để lấy thông tin tại cộng đồng nghiên cứu bằng hai phương pháp: định lượng và định tính để phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình. Kết quả là sinh viên biến vận dụng, đưa nguồn tài liệu điền dã vào trong đề tài nghiên cứu cụ thể; biến vận dụng lý thuyết, phân tích tư liệu thực địa trong đề tài nghiên cứu của mình. Kết quả của đợt thực tập này là tập báo cáo hoàn chỉnh về một đề tài nghiên cứu cụ thể. Sản phẩm của báo cáo này có thể tiếp tục được nâng lên để làm đề tài nghiên cứu khoa học, khóa luận tốt nghiệp; và cũng là cơ sở cho việc làm luận văn sau này, nếu sinh viên muốn tiếp tục học thêm.

5. Việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp

Với các khối kiến thức, kỹ năng và phẩm chất nhân văn được trang bị tại Nhà trường, sinh viên nhân học có cơ hội làm việc trong nhiều ngành nghề thuộc lĩnh vực xã hội và nhân văn, tiêu biểu như:

- Nghiên cứu, giảng dạy: Sinh viên có nhiều cơ hội làm việc tại các trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp, trung tâm nghiên cứu, viện nghiên cứu, các tổ chức NGOs và các cơ quan hoạch định và triển khai chính sách liên quan đến các vấn đề: dân tộc, tôn giáo và đời sống xã hội.

- Truyền thông và tổ chức sự kiện: Nhiều doanh nghiệp thương mại và các tổ chức xã hội cần những chuyên viên làm việc về truyền thông phù hợp với kiến thức, khả năng chuyên môn đối với cử nhân ngành nhân học.

- Quản lý nhân sự: Bộ phân nhân sự các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội là điểm đến làm việc của những cử nhân nhân học khi có đầy đủ kiến thức, kỹ năng và phẩm chất được đào tạo trong ngành nhân học.

Ngoài ra còn nhiều lĩnh vực khác phù hợp với chuẩn đầu ra của khung chương trình đào tạo này.

6. Học sinh đăng ký vào ngành Nhân học

- Hãy là người năng động, yêu khám phá nền văn hóa không phải là của mình

- Luôn tôn trọng sự đa dạng văn hóa

- Tích cực học hỏi và cùng chia sẻ

- Giỏi tiếng Anh sẽ có nhiều cơ hội nhận học bổng Sau đại học ở các trường các trường đại học danh tiếng trên thế giới

- Lực chọn ngành theo niềm đam mê của mình

- Cơ hội làm việc cao sau khi tốt nghiệp

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.