Sinh kế, biến đổi sinh thái và sự thích nghi của con người ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long trong quá trình chuyển dịch từ trồng lúa sang nuôi tôm thương mại

Sự hội nhập mạnh mẽ vào thị trường thế giới, sinh thái của vùng đồng bằng và phương thức mưu sinh của các cư dân đã có những thay đổi mạnh mẽ. Các cư dân đã đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình môi trường sống của họ.
 

 

 

 

1. Đặt vấn đề

Là một vùng đồng bằng màu mỡ, thường xuyên được dòng sông Cửu Long bồi đắp phù sa, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng có tiềm năng nhất trong sản xuất nông nghiệp. Trong quá trình gia tăng hội nhập vào thị trường thế giới, vùng đồng bằng này đã trải qua những thay đổi quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Với những chính sách khuyến khích sản xuất đa dạng khác nhau, sự tự do hóa thương mại, và sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, các hoạt động kinh tế của vùng đồng bằng đã chuyển sang hệ thống sản xuất thị trường và sản xuất nông nghiệp có giá trị thương mại cao. Kết quả là, mặc dù vùng đồng bằng chỉ chiếm khoảng 12% diện tích đất nước, hàng năm đã sản xuất 50% lượng gạo của cả nước, 90% lượng gạo xuất khẩu, 80% lượng thủy sản, và 60% lượng thủy sản xuất khẩu của cả nước (Ban chỉ đạo Tây Nam bộ và Trung tâm thông tin Sài Gòn, 2005, tr.17). Cùng với sự tăng trưởng về kinh tế, vùng đồng bằng và phương thức sống của các cư dân đã trải qua những thay đổi quan trọng trên nhiều khía cạnh. Trong những thập kỷ vừa qua, sự chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp đã trở thành một hiện tượng nổi bật của vùng.

Phân tích sự chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm ở vùng ĐBSCL, bài viết cho là cùng với sự hội nhập mạnh mẽ vào thị trường thế giới, sinh thái của vùng đồng bằng và phương thức mưu sinh của các cư dân đã có những thay đổi mạnh mẽ. Các cư dân đã đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình môi trường sống của họ. Sự thay đổi sinh thái này đến lượt lại chi phối cuộc sống của con người. Con người trong sự thích nghi của mình phải vận dụng đến những nguồn tài nguyên vật chất và xã hội để thích nghi với môi trường nhân văn mới này.

2. Phương pháp nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu

Bài viết trình bày những kết quả nghiên cứu dựa trên các phương pháp thu thập dữ liệu định tính, bao gồm các cuộc phỏng vấn với các nông dân nuôi tôm và chính quyền địa phương cũng như quá trình quan sát tham dự trong nghiên cứu điền dã vào năm 2009 và đầu năm 2010 tại các địa điểm nghiên cứu.

Nghiên cứu của chúng tôi khảo sát hai cộng đồng nông dân nuôi tôm, một cộng đồng ở tỉnh Long An (ấp Đình, xã Tân Chánh, huyện Cần Đước) và một cộng đồng ở tỉnh Cà Mau (ấp Thị Tường, xã Hòa Mỹ, huyện Cái Nước). Hai cộng đồng này tham gia vào sản xuất nuôi tôm quảng canh và quảng canh cải tiến, vốn là hai loại hình nuôi tôm chính ở vùng ĐBSCL. Hình thức nuôi quảng canh hay còn được gọi là quảng canh truyền thống đặc trưng bằng sự đầu tư thấp về đào ao vuông, chuẩn bị ao và kỹ thuật nuôi tôm. Tôm được nuôi dựa hoàn toàn vào nguồn thức ăn sẵn có trong tự nhiên. Tôm giống được thả với mật độ t hấp, từ 1-2 con/ m2. Trái với những loại hình nuôi tôm khác trong đó tôm được thả một lần và thu hoạch một lần, ở loại hình nuôi tôm quảng canh, người ta thường thả con giống mỗi tháng hay mỗi hai tháng để có tôm thu hoạch mỗi ngày hay mỗi một đến hay tuần.

Sử dụng phương pháp nuôi áp dụng nhiều khoa học kỹ thuật hơn so với hình thức nuôi quảng canh, loại hình nuôi tôm quảng canh cải tiến đòi hỏi sự đầu tư đáng kể về cả vốn đầu tư và kỹ thuật nuôi. Bên cạnh việc áp dụng các kỹ thuật giống như ở hình thức quảng canh nhưng ở mức độ thâm canh hơn, các nông dân nuôi theo hình thức quảng canh cải tiến còn sử dụng thức ăn chế biến của các nhà máy sản xuất hay thức ăn tự chế biến bằng hình thức xay thủ công các loại nguyên liệu tươi và các loại thuốc cung cấp vitamin giúp tôm tăng cường sức đề kháng và mau lớn, cũng như các loại hóa chất khử trùng, và men vi sinh trong khâu chuẩn bị ao vuông và trong quá trình nuôi tôm. Vuông tôm được sên vét và đắp bờ cẩn thận hàng năm. Trên nguyên tắc, mật độ tôm giống được thả ở loại hình này là từ 3-5 con/ m2. Tuy nhiên, ở Long An, để có năng suất cao trong khi diện tích đất có giới hạn, người dân thường thả tôm với mật độ cao hơn nhiều so với mức quy định, thả từ 10 đến 20 con tôm giống/ m2. Bên cạnh hai hình thức nuôi tôm vừa kể trên, một bộ phận nhỏ nông dân còn nuôi tôm theo kiểu công nghiệp vốn đòi hỏi một sự đầu tư cao về vốn, thường cao hơn loại hình quảng canh 40 lần và cao hơn loại hình quảng canh cải tiến (trong trường hợp ở Long An) gấp năm lần một ha một năm.

Cả hai địa bàn nghiên cứu đều là vùng nước lợ, với sáu tháng nước mặn và sáu tháng nước ngọt hàng năm. Các cư dân trước khi chuyển sang nuôi tôm chủ yếu canh tác lúa một vụ. Sự chuyển dịch từ lúa sang tôm là sự chuyển đổi từ hoạt động kinh tế dựa vào hệ sinh thái nước ngọt sang hệ sinh thái nước mặn. Sự chuyển đổi này đã dẫn đến sự thay đổi phương thức sống của các nông dân như là một sự thích nghi sinh thái của con người. Qua hai trường hợp nghiên cứu, bài viết sẽ trình bày một số khía cạnh xã hội của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp ở vùng ĐBSCL từ hướng tiếp cận môi trường.

3. Sản xuất tôm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long

Hiện nay, ĐBSCL đang chuyển từ kinh tế thuần nông sang nền kinh tế đa dạng, nông nghiệp chất lượng cao và đang hướng tới nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ. Các tiến bộ khoa học kỹ thuật với việc cung cấp các loại giống mới cho năng suất cao, các loại phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn công nghiệp… đã đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện và thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng ĐBSCL. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp tại đây đã diễn ra sôi động nổi bật với việc chuyển từ trồng lúa sang các sản phẩm nông nghiệp khác như cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản. Đặc biệt, việc chuyển ồ ạt từ trồng lúa một vụ năng suất thấp sang nuôi tôm thương mại trong những thập niên qua ở vùng đất này đã chứng tỏ sự tham gia mạnh mẽ của nông dân vào sản xuất thị trường.

Trong quá trình chuyển đổi này, các chính sách của nhà nước đã đóng một vai trò quan trọng. Tự do hóa thương mại cùng với các chính sách đa dạng khác nhau của nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và thủy sản nói riêng đã thúc đẩy ngành nuôi tôm của vùng đồng bằng phát triển mạnh mẽ. Cùng với chính sách công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp của nông dân thể hiện qua Luật đất đai, các chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đã là một động lực thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của cả nước nói chung và ĐBSCL nói riêng. Riêng đối với ngành thủy sản, Quyết định 773-TTg ngày 21 tháng 12 năm 1994 hướng tới xây dựng cơ sở hạ tầng cho sản xuất thủy sản với những hệ thống thủy lợi, trại tôm giống, các nông trại quy mô lớn, đã mở đầu cho việc mở rộng nuôi trồng thủy sản giai đoạn 1994-1999. Kể từ năm 1999, nhiều chương trình và chính sách đã được áp dụng để thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu tôm. Riêng đối với khu vực ĐBSCL và nghề nuôi trồng thủy sản thì Quyết định 224/1999/TTg ngày 8 tháng 12 năm 1999 về chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản 1999-2010, Nghị quyết của Chính phủ số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, cho phép chuyển đổi đất trồng lúa năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản, và Quyết định 173/2001/QĐ-TTg ngày 6 tháng 11 năm 2001 khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL đã có những ảnh hưởng quan trọng. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng tạo điều kiện cho sự phát triển nghề nuôi trồng thủy sản nói chung và nghề nuôi tôm nói riêng.

Về phía người sản xuất, để đáp ứng kịp thời với nhu cầu thị trường ngày càng gia tăng, đặc biệt là nhu cầu xuất khẩu, các nông dân đã tận dụng triệt để lợi thế cạnh tranh của môi trường tự nhiên để tham gia sản xuất tôm thương mại. Không giống như sản xuất lúa gạo trong đó các nông dân có thể tiêu thụ một phần sản phẩm làm ra, các nông dân nuôi tôm chủ yếu để cung cấp cho thị trường với các mô hình khác nhau. Các nông dân sống ở các vùng rừng ngập mặn nuôi tôm kết hợp với trồng rừng (như ở huyện Năm Căn, Ngọc Hiển và Đầm Dơi của tỉnh Cà Mau, huyện An Minh của tỉnh Kiên Giang); những nông dân trước đây hoặc là trồng lúa một vụ một năm (như huyện Cần Đước của tỉnh Long An, huyện Cái Nước của tỉnh Cà Mau) hay sản xuất muối ở các vùng ven biển (đặc biệt là tỉnh Bạc Liêu) đã chuyển sang nuôi tôm độc canh hay tôm lúa luân canh. Các yếu tố thuận lợi về thị trường, môi trường và chính sách đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch sang nuôi tôm diễn ra mạnh mẽ thể hiện qua sự gia tăng nhanh về diện tích sản xuất. Ở huyện Cái Nước của tỉnh Cà Mau, vào giai đoạn 1997-2002, diện tích nuôi tôm đã tăng 8,5 lần với 64.000 ha (Mai Trọng Thông et al., 2006:8). Ở huyện Cần Đước giai đoạn 1995-2002, diện tích nuôi tôm đã tăng 5,6 lần với 935 ha (Ủy ban Nhân dân xã Tân Chánh, 2009)

Ở vùng ĐBSCL, tôm được nuôi ở tám tỉnh ven biển (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Kiên Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau). Trong các tỉnh này, Cà Mau là tỉnh có diện tích nuôi tôm nhiều nhất trong khi Tiền Giang và Long An là các tỉnh có diện tích nuôi tôm ít nhất. Giai đoạn 2000-2002 là giai đoạn phát triển mạnh của nghề tôm ở Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng với sự gia tăng mạnh mẽ diện tích nuôi tôm. Diện tích nuôi tôm ở ĐBSCL hiện nay là 560.000 ha, chiếm 90% diện tích tôm nuôi và 75% sản lượng tôm nuôi của cả nước (Niên giám thống kê 2009). Với sự gia tăng mạnh mẽ về sản xuất, Việt Nam đã trở thành một trong năm nước dẫn đầu về xuất khẩu tôm trên thế giới. Thị trường xuất khẩu của tôm Việt Nam hiện nay vẫn là các thị trường truyền thống Nhật, Mỹ, EU và các quốc gia ở Châu Á như Trung Quốc, Hồng Kong, Đài Loan và Hàn Quốc.

Ở giai đoạn đầu của quá trình nuôi tôm, do tập trung chú trọng vào sản xuất lúa nên đặc điểm của việc nuôi tôm nước mặn ở các vùng sản xuất lúa đều mang tính tự phát. Chẳng hạn như ở huyện Đầm Dơi của tỉnh Cà Mau vào giai đoạn 1995-1999, khi mà chủ trương của tỉnh vẫn là tập trung vào cây lúa và nuôi tôm chưa được khuyến khích, đã là nơi đầu tiên trong tỉnh lén lút phá đập và dẫn nước mặn vào các ruộng lúa để nuôi tôm trên các cánh đồng được ngọt hóa để trồng lúa.

Sau khi được hợp pháp hóa bởi các chính sách khuyến khích phát triển, con tôm đã chính thức được đưa vào nuôi rộng rãi ở các vùng nước lợ ở ĐBSCL như một phương cách mưu sinh mới để các cư dân địa phương cải thiện đời sống kinh tế. Chính quyền địa phương thông qua các chính sách khuyến khích đã đóng vai trò quan trọng trong sự chuyển dịch này. Tuy nhiên, mặc dù cùng áp dụng chính sách chuyển dịch từ lúa sang tôm nhưng do những điều kiện lịch sử, kinh tế, môi trường đặc thù của từng địa phương nên mỗi vùng nuôi tôm đã có con đường chuyển dịch riêng của mình. Chẳng hạn như ở Long An, quá trình chuyển dịch diễn ra tiệm tiến, trong khi đó ở Cà Mau quá trình diễn ra đồng loạt và nhanh chóng. Xã Tân Chánh của huyện Cần Đước, tỉnh Long An bắt đầu nuôi tôm sú vào năm 1993-1994 trong khi xã Hòa Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau chuyển dịch sang nuôi tôm đồng loạt vào năm 2001. Do có diện tích sản xuất ít nên nông dân ở xã Tân Chánh nuôi theo hình thức quảng canh cải tiến trong khi nông dân xã Hòa Mỹ có diện tích đất sản xuất lớn áp dụng hình thức nuôi quảng canh.

Đối tượng tôm nuôi cũng khác nhau tùy theo vùng. Hiện nay, các nông dân chủ yếu nuôi loại tôm sú (Penaeus Monodon). Giống tôm thẻ chân trắng (Penaeus Vannamei) được đưa vào nuôi ở các tỉnh miền Trung từ năm 2000, và chỉ được cho phép nuôi ở vùng ĐBSCL từ năm 2008. Mặc dù tăng trưởng nhanh và có năng suất cao nhưng giống tôm thẻ dễ bị nhiễm bệnh và gây ô nhiễm môi trường nuôi ở mức độ cao. Vì thế, người dân thường kết hợp cả hai loại tôm này tùy theo điều kiện cụ thể của từng ao vuông. Ở hai địa bàn khảo sát của chúng tôi, nông dân ở Cà Mau chỉ nuôi loại tôm sú trong khi ở Long An, nông dân nuôi cả hai loại.

Kể từ năm 2000, thời điểm tôm được chính thức cho phép nuôi trên diện rộng, cùng với sự thay đổi về phương thức mưu sinh này, vùng ĐBSCL cũng đã chứng kiến một sự thay đổi mạnh mẽ về sinh thái và xã hội ở những vùng nuôi tôm. Hai địa bàn nghiên cứu của chúng tôi là một trong những ví dụ điển hình.

4. Biến đổi sinh thái và sự thích nghi của cư dân trong đời sống kinh tế-xã hội

4.1 Biến đổi sinh thái

Ở hai địa bàn nghiên cứu, phương thức sống của cư dân trong quá khứ là canh tác lúa vào mùa mưa và vì thế cuộc sống hoàn toàn dựa vào hệ sinh thái nước ngọt. Thông thường, các nông dân trồng các giống lúa mùa của địa phương có thời gian sinh trưởng từ 5 đến 6 tháng. Do ưu tiên hệ sinh thái nước ngọt nên sống ở vùng đất giao thoa của nước mặn và nước ngọt, các cư dân địa phương đã cố gắng đắp đập để ngăn mặn với hy vọng có thể duy trì hệ sinh thái nước ngọt và canh tác lúa quanh năm. Do bản chất của từng vùng đất, quá trình này dẫn đến những kết quả khác nhau.

Ở Tân Chánh, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975, trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế địa phương, chính quyền đã xây dựng các đập ở các nhánh sông lớn trong vùng để nuôi tôm cá tự nhiên vào mùa khô (mùa nước mặn) và khi thu hoạch tôm cá xong sẽ lấy nước ngọt vào mùa mưa để trồng lúa. Tuy nhiên, nỗ lực này thất bại do, cùng với việc đắp đập, làm cống để kiểm soát dòng chảy của các sông rạch, đất canh tác bị nhiễm phèn nhiều hơn và không có đủ nước ngọt cho canh tác lúa thậm chí ngay cả vào mùa mưa do lượng nước chảy qua các cống nhỏ từ bên ngoài đổ vào hệ thống kênh rạch nội đồng không đủ cung cấp cho các cánh đồng lúa trên toàn vùng vốn có địa hình cao thấp khác nhau. Ngoài ra, do việc nuôi tôm cá này được quản lý theo kiểu tập đoàn không hiệu quả nên chương trình nuôi tôm tự nhiên thất bại. Kết quả là, các nông dân bằng mọi cách lấy nước cho đồng ruộng theo cách riêng của mình làm hư hại đến hệ thống đập cùng với việc hệ thống cống đập này không được tu sửa nên. Kết quả là toàn bộ hệ thống đập và cống bị hư hại do yếu tố con người và tự nhiên. Cuối cùng, nước được để cho chảy theo hệ thống kênh rạch và dòng chảy tự nhiên.

Ở Hòa Mỹ, từ khi các cư dân đầu tiên đến đây khai hoang lập nghiệp, họ đã nỗ lực xây dựng các con đập để ngăn mặn giữ ngọt. Theo lời kể của cư dân địa phương, hàng năm, khi mùa khô đến, người dân trong vùng huy động nhau chở đất bằng xuồng đi gia cố các con đập để ngăn mặn, giữ ngọt. Vào mùa mưa các con đập sẽ được mở để nước ngọt xâm nhập sâu vào nội đồng. Sau năm 1975, với chương trình ngọt hóa vùng đất này, các con đập và các cống kiên cố chắc chắn được xây dựng. Vào thời tập đoàn những năm đầu 1980, việc chở đất đi gia cố đập được dùng như một hình thức phạt đối với những cá nhân hay hộ gia đình vi phạm các qui định của tập đoàn. Với hệ thống đê ngăn mặn giữ ngọt kiên cố này và nhờ có nhiều đất, các cư dân địa phương có thể trồng lúa, rau, cây ăn trái, nuôi heo và các loại cá nước ngọt để tự cung tự cấp lương thực và một phần tham gia thị trường để lấy tiền mặt chi tiêu cho các nhu cầu khác của gia đình.

Khi chuyển sang nuôi tôm, hệ sinh thái này ở các cộng đồng đã có sự thay đổi. Ở Tân Chánh của Long An, đa số các cư dân cải tạo các ruộng lúa thành các vuông tôm. Một số người còn mở rộng diện tích ao nuôi tôm bằng cách tận dụng các khoảng đất vườn và thổ cư. Trong khi đó ở Hòa Mỹ, do có diện tích đất rộng, các cư dân cải tạo cả các ruộng lúa và vườn cây ăn trái thành các vuông tôm. Bên cạnh đó, để phục vụ cho việc nuôi tôm, ngoài hệ thống kênh rạch tự nhiên, rất nhiều các con kênh được khơi rộng hay đào mới để phục vụ cho việc dẫn nước mặn vào các đồng ruộng nuôi tôm. Kết quả là, ở các vùng nuôi tôm, đặc biệt là các vùng nuôi quảng canh, có một hệ thống kênh rạch rộng lớn và chằng chịt. Ngoài ra, khung cảnh chung của địa phương không còn đặc trưng bởi những ruộng lúa xanh ngát vào mùa gieo trồng và vàng ươm vào mùa thu hoạch, thay vào đó là các vuông tôm mênh mông nước mặn lợ và trống trải bóng cây. Dừa nước vốn trước đây thường được trồng rất nhiều để lấy lá lợp nhà. Hiện nay, do cần diện tích nuôi tôm và nhà xây là đa số nên tại các vùng đất này, loại cây này cũng không còn được duy trì với diện tích lớn. Ở các vùng nuôi tôm theo mô hình rừng tôm, các báo cáo cho thấy sự phát triển của nghề nuôi tôm là một nguyên do chính cho sự suy giảm diện tích rừng ngập mặn. Chẳng hạn như trong vòng 8 năm (1983-1995), tỉnh Minh Hải (nay là Bạc Liêu và Cà Mau) đã mất 66.253 ha rừng để chuyển thành vuông tôm. Việc chuyển đổi các khu rừng ngập mặn thành các vuông tôm gia tăng từ 3.000 ha vào năm 1983 lên đến 76.036ha vào năm 1995 (Minh.T.H và các tác giả, 2001, tr. 4). Sự đa dạng các loài thủy sản địa phương cũng bị suy kiệt do sự độc canh tôm và do sự khai thác cạn kiệt của con người.

Sự thay đổi sinh thái này đã tác động đến đời sống kinh tế và xã hội của các cư dân. Các nông dân ở Hòa Mỹ miêu tả những tác động đối với môi trường sinh sống và cuộc sống của họ:

Xả nước vô kênh rồi lấy nước vô ao ruộng ảnh hưởng chứ. Vườn tược hư hết trơn, ảnh hưởng hoa màu bị chối nước mặn chết hết. Nước mặn nó thấm vào. Trước đây ngăn đập, 12 tháng ngọt nó có bị sao đâu. (Tuy) có sáu tháng nước ngọt từ tháng 5 đến tháng 1 nhưng đất nó cũng bị nhiễm mặn rồi mà ghẹm (rạm) nó kẹp hết à. Đưa nước mặn vô cây lúa nó háp hết. Mấy năm đầu nhiễm mặn đó, nó bị nhiễm phèn, nhiễm mặn trong đất. Từ 2006 đến giờ nó quen dần thì còn đỡ. Ngày đó, khó khăn có những ao nước còn uống được giờ thì chịu. Giờ phải ăn nước cung tên (nước giếng bơm) với nước mưa, từ khi chuyển vụ phải khoan nước ngầm. Hồi đó còn dám tắm dưới kinh chớ giờ hổng dám. Giờ giặt nước đó hư hết đồ. Mà nước mặn con người cũng cằn cọc lắm. Nước mặn khó khăn trong việc tưới tiêu mà làm con người bực bội, tưới nước phải gánh, phải bưng, chớ hồi đó chỉ múc nước dưới ao lên là tưới à. Mùa nóng là nhảy tủm cái xuống là tắm, giờ chịu, phải bơm nước mà đôi khi làm biếng lắm”.

Ông N.T.N, 74 tuổi, Thị Tường, Cà Mau

Cống đập dỡ hết để dẫn nước mặn cho mình mần tôm heng, cái khó là nó làm cho đất bị nhiễm mặn. Ôi ảnh hưởng lắm chứ. Mới đầu cây cối chết dục hết vì mặn. Trước đây cây rau gì cũng có mà giờ ít. Mới hai, ba năm nay đắp đất cao, phơi đất, người ta mới trồng lại chuối dừa. Ngày đó nhiều lắm, cá tôm đầy nhóc. Đặt lú ngày cũng được vài ba “giạ” ấy chứ giờ ít lắm”.

Ông N.T.B, 53 tuổi, Thị Tường, Cà Mau

Cùng với sự tác động sinh thái do thay đổi nguồn nước từ ngọt sang mặn, khi chuyển sang nuôi tôm thì sự ô nhiễm nguồn nước do các chất thải từ tôm cũng là một vấn đề quan tâm của các cư dân tại đây. Sự ô nhiễm này có tác động đến việc nuôi tôm của cộng đồng như một nông dân minh họa:

Giờ phải chăm sóc tôm, nước non, con giống, ăn uống này nọ. Hồi đó ruốc ăn đâu có xay gì để thúi vậy mà trúng quá trời. Bây giờ, tui nấu chín đem xay vậy mà không trúng mới kỳ. Hồi trước, đất còn mới và màu mỡ. Giờ nuôi tôm nhiều đất ô nhiễm hết rồi. Bởi vậy mới thất hoài.”

Ông P.V.S, 65 tuổi, ấp Đình, Tân Chánh, Long An

Ngoài ra, do để tiết kiệm chi phí và để có hiệu quả cao người dân thường dùng thuốc bảo vệ thực vật (thuốc trừ sâu) để diệt các loài sinh vật khác gây ảnh hưởng cho sự phát triển của con tôm. Điều này gây thiệt hại sinh thái về lâu dài đặc biệt làm cho sự suy giảm về sự đa dạng sinh thái và cho cả việc nuôi tôm do ảnh hưởng của các hóa chất.

Như vậy, sự thay đổi sinh thái này là một quá trình xã hội trong đó con người đóng một vai trò quan trọng trong việc tác động chi phối đến môi trường của họ trong quá trình sinh sống. Tuy nhiên, đây là một quá trình hai mặt. Khi chuyển từ phương thức mưu sinh truyền thống sang một phương thức mới, con người đã phải thích nghi với môi trường mới do họ tạo ra này bằng cách thay đổi phương cách sống của họ.

4.2 Các thay đổi về phương thức sống như là sự thích nghi của cư dân địa phương với sự thay đổi của môi trường

Khi chuyển từ phụ thuộc hệ sinh thái nước ngọt sang hệ sinh thái nước mặn, việc làm của các cư dân ở các vùng nuôi tôm đã có sự thay đổi rõ rệt. Ở Tân Chánh, do diện tích canh tác đất không nhiều vì sự tăng dân số cơ học và sinh học và thu nhập thấp do chỉ canh tác lúa một vụ, các cư dân vùng đất Tân Chánh từ lâu đã có nhiều hoạt động kinh tế khác bên cạnh hoạt động nông nghiệp. Các ngành nghề của cư dân Tân Chánh mang đặc điểm của một vùng đất có vị trí liền kề với Tp. Hồ Chí Minh, một thành phố đông đúc và nhộn nhịp nhất ở khu vực phía Nam của Việt Nam, và là cửa ngõ nối vùng ĐBSCL và vùng Đông Nam bộ. Các hoạt động kinh tế khác gồm có đi ghe buôn bán và di cư lao động đi đến các vùng nông nghiệp khác. Cư dân địa phương trước đây nổi tiếng với nghề chèo ghe buôn bán đồ gốm sứ, lu vại, buôn heo, đồ gia dụng, củi, phế liệu… giữa các tỉnh ở miền Đông Nam bộ, thành phố Hồ Chí Minh và vùng ĐBSCL. Tuy nhiên, trồng lúa và khai thác thủy sản là hoạt động chính của đại bộ phận cư dân.

Giống như xã Tân Chánh, người dân ở xã Hòa Mỹ sinh sống chủ yếu bằng hoạt động nông nghiệp trồng lúa, trồng cây ăn trái, chăn nuôi và khai thác thủy sản trên sông rạch. Vào thời “nông nghiệp”, các cư dân địa phương có thể tự sản xuất lúa, trồng rau, cây ăn trái, nuôi heo, gà và cá để tiêu thụ và bán quanh năm. Ngoài ra, nhờ vào hệ sinh thái nước ngọt vốn có rất nhiều loại cá, người dân có thể đánh bắt các loại thủy sản nước ngọt khác nhau với số lượng nhiều. Do có nhiều đất và tài nguyên thủy sản phong phú và dồi dào, các nông dân có thể sản xuất và có được lượng lương thực thực phẩm nhiều hơn nhu cầu tiêu dùng vì thế người dân có thể bán để lấy tiền mặt. Di cư lao động vào lúc này không là một hiện tượng phổ biến do các công việc lao động nông nghiệp tại địa phương cần rất nhiều lao động. Hiện nay, ở cả hai địa bàn, nuôi tôm là hoạt động kinh tế chính của các cư dân. Kinh tế tự cung tự cấp không còn tồn tại. Thay vào đó, hoạt động kinh tế và đời sống của các cư dân phụ thuộc mạnh mẽ vào thị trường.

Sự thay đổi về phân công lao động cũng thể hiện rõ ở cả hai cộng đồng. Vào thời trồng lúa, cả nam và nữ cùng tham gia vào lao động nông nghiệp. Khi chuyển sang nuôi tôm, nam giới trở thành lao động chính vì công việc này đòi hỏi nhiều thời gian lao động trong nước, các kỹ thuật và kiến thức phức tạp, công việc lao động nặng nhọc như sên vét ao vuông, chạy máy bơm, canh và chăm sóc tôm vào ban đêm. Ở các vùng nuôi, đàn ông thường phải ngủ đêm ở các chòi canh tôm để canh tôm, chăm sóc hay cho tôm ăn cho đến lúc thu hoạch. Vì thế, trong nghề nuôi tôm, đàn ông thường là người có nhiều kiến thức và thông tin về nghề. Tuy nhiên, do sự thay đổi sinh thái với việc chuyển từ trồng lúa sang nuôi tôm và sự thất bại liên tiếp của các vụ tôm, và cùng với sự xuất hiện của các hãng xưởng tại địa phương cũng như các vùng và thành phố lân cận, một số thanh niên nam nữ địa phương trong độ tuổi lao động đã đi làm công nhân để có thể có mức lương ổn định hàng tháng thay vì thu nhập bất ổn và không dự đoán được từ việc nuôi tôm. Phụ nữ thường đi làm ở các xưởng may mặc trong khi nam giới đi làm công nhân hay đi phụ hồ. Công việc nuôi tôm lúc này sẽ do cha mẹ hay vợ/ chồng của họ đảm nhận chính. Vào năm 2009, trong khóa dạy nghề nuôi tôm được tổ chức ở ấp Đình, xã Tân Chánh của Long An, do nam giới đi làm ở các hãng xưởng, những người tham dự đa phần là phụ nữ và đàn ông lớn tuổi. Do sự thay đổi về phân công lao động này, phụ nữ bắt đầu tham gia tích cực hơn vào việc nuôi tôm, bao gồm các công đoạn lựa chọn con giống, cho ăn và canh tôm. Đối với những công việc nặng nhọc khác, người dân thường thuê lao động. Tuy nhiên, việc di cư lao động của nam thanh niên cũng gây nên một sự thiếu hụt về lao động nông nghiệp. Điều này cũng dẫn đến việc gia tăng chi phí sản xuất nông nghiệp.

Bên cạnh sự thay đổi về nghề nghiệp, phương cách sống của các cư dân cũng có sự thay đổi đáng kể. Nước mặn giờ đây được xem là một nguồn tài nguyên quý giá. Ở giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi, mô hình luân canh tôm lúa được khuyến khích áp dụng để đảm bảo tính cân bằng sinh thái và an ninh lương thực. Tuy nhiên, với sự thành công vang dội của những vụ tôm đầu, người dân có khuynh hướng bỏ canh tác lúa. Thậm chí, người dân còn nuôi tôm quanh năm bằng cách giữ nước mặn lại trong vuông để nuôi vào mùa mưa hay là để đất trống không canh tác lúa do giá trị sản xuất của lúa không còn hấp dẫn với người nông dân như nuôi tôm. Ngoài ra, việc không có nhiều người trồng lúa đã gây khó khăn cho những nông dân khác muốn trồng lúa do khi trồng sẽ bị các loại côn trùng, chim và chuột tập trung cắn phá, gây tổn thất nặng nề, thậm chí không còn lúa để thu hoạch. Dần dần, do có diện tích đất giới hạn trong khi muốn gia tăng năng suất nuôi tôm, các nông dân đã đào bỏ đi phần đất trồng lúa trong vuông tôm này để làm cho vuông tôm sâu hơn để có thể nuôi được nhiều tôm hơn. Các ruộng lúa giờ đây đã trở thành các “ao” tôm. Phương thức sinh sống của cư dân địa phương giờ đây phụ thuộc hoàn toàn vào hệ sinh thái nước mặn. Người dân nuôi tôm vào mùa khô và thời gian nông nhàn là vào mùa mưa. Do vậy, trước đây dịp Tết nguyên đán và tháng giêng sau Tết cũng là lúc mùa gặt hái đã hoàn tất, là lúc mọi người nghỉ ngơi sau một năm lao động vất vả. Tuy nhiên, hiện nay do mùa vụ nuôi tôm chính (tháng 12 âm lịch đến tháng 5 âm lịch) lại trùng vào dịp Tết nguyên đán, và công việc nuôi tôm đòi hỏi sự chăm sóc kỹ càng và thường nhật nên dịp Tết nguyên đán cũng là dịp người dân phải tất bật với việc chăm sóc các vuông tôm. Do vậy, quan niệm “tháng giêng là tháng ăn chơi” không còn giữ nguyên ý nghĩa của nó đối với người nuôi tôm. Các hoạt động chăn nuôi gắn liền với nông nghiệp cũng không còn phổ biến. Ngoài ra, vào thời nông nghiệp, do tính chất hoạt động nông nghiệp và do đời sống kinh tế khó khăn nên người dân phải làm việc quanh năm không có nhiều thời gian nhàn rỗi do công việc trồng lúa cần nhiều công lao động chăm sóc, các công việc khác như chăn nuôi, gánh nước ngọt để dùng, đốn lá, phơi lá, thay và tu bổ lá lợp nhà[1] cũng như đi làm các công việc khác. Hiện nay, do việc nuôi tôm không cần nhiều lao động và điều kiện kinh tế đã được cải thiện hơn nên người dân có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn trước đây.

Sự chuyển dịch sang nuôi tôm cũng đem đến một sự thay đổi về đời sống kinh tế của các cư dân. Nhờ vào lợi nhuận lớn từ việc nuôi tôm, cơ sở hạ tầng của một số cộng đồng nuôi tôm trong vùng được cải thiện đáng kể. Trước đây, do đường đất trợn trượt nên người dân chủ yếu đi lại bằng đường thủy vào mùa mưa và đường bộ vào mùa khô. Hiện nay, người dân chủ yếu đi lại bằng đường bộ nhờ vào các con đường đã được trải nhựa hay tráng xi măng. Các căn nhà kiên cố hay bán kiên cố có được từ lợi nhuận nuôi tôm cũng đã xuất hiện ở các vùng chuyển dịch sang nuôi tôm. Tuy nhiên, nghề nuôi tôm cũng là một nghề tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do vậy, song hành với những thành công do nghề nuôi tôm đem lại thì hiện tượng cầm cố đất đai hay di cư lao động do nuôi tôm thua lỗ cũng phổ biến ở những vùng nuôi tôm.[2] Nợ quá hạn là một hiện tượng phổ biến ở những vùng nuôi tôm ở ĐBSCL.[3]

Với sự thay đổi phương thức mưu sinh từ lúa sang tôm, những cộng đồng nuôi tôm còn đối mặt với những vấn đề xã hội và môi trường mới như nạn trộm cắp tôm, mâu thuẫn lợi ích tài nguyên trong cộng đồng và ô nhiễm môi trường. Ở xã Hòa Mỹ, tỉnh Cà Mau, do có diện tích canh tác đất lớn và dân cư cư trú rải rác, nạn trộm tôm có giai đoạn rất phổ biến, gây nhiều bức xúc và lo lắng cho cộng đồng. Hiện tượng này làm tăng thêm tổn thất, đe dọa cuộc sống của người dân. So với cá nước ngọt và các sản phẩm nông nghiệp khác, tôm là đối tượng dễ bị trộm với số lượng lớn. Các nông dân phải thường xuyên canh giữ vuông tôm. Nhịp điệu cuộc sống cũng ít nhiều bị ảnh hưởng do phải thường xuyên thức canh trộm vào ban đêm. Bên cạnh đó, sự xung đột ngầm về nguồn nước nuôi tôm tiềm ẩn ở hầu hết các cộng đồng nuôi tôm. Ở Cà Mau, đó là mâu thuẫn giữa các nông dân nuôi quảng canh và thâm canh. Mặc dù chính quyền địa phương đã có những quy định cụ thể đối với cho việc nuôi tôm công nghiệp trong việc sên vét ao vuông để không gây ô nhiễm cho môi trường nhưng những biện pháp để kiểm tra việc thực hiện này còn nhiều bất cập. Chất thải từ các ao vuông nuôi công nghiệp vốn sử dụng nhiều hóa chất được cho là nguồn ô nhiễm chủ yếu hiện nay đối với nguồn nước nuôi tôm chung của cộng đồng. Trong khi ở Long An, do người dân nuôi theo loại hình quảng canh cải tiến với mật độ cao nên cần phải đầu tư nhiều vào thức ăn cho tôm. Và cũng do mật độ nuôi tôm cao này mà nguồn nước thường nhanh bị ô nhiễm. Mặc dù chính quyền có những quy định về việc xổ xả nguồn nước thải hay khi tôm chết do dịch bệnh từ trong ao vuông ra hệ thống kênh mương chung nhưng do lợi ích của các cá nhân nên mọi người thường không tuân theo. Chẳng hạn như khi tôm bị nhiễm bệnh, theo quy định, chủ hộ nuôi tôm phải dùng hóa chất xử lý ao vuông trước khi thả nước ra khỏi ao, nhưng mọi người không làm do chi phí cao. Nguồn nước ô nhiễm này là mối đe dọa thường trực cho các hộ nuôi tôm lân cận. Do việc quy hoạch các ao nuôi và vùng nuôi phụ thuộc vào từng hộ gia đình nên ở đa số các vùng nuôi tôm hệ thống cấp thoát nước cho nuôi tôm chưa được hoàn thiện. Việc cấp thoát nước được sử dụng chung trên một hệ thống. Điều này thường được nhìn nhận như một lý do dẫn đến các trận dịch bệnh tôm diễn ra trên diện rộng tại hai địa bàn, đặc biệt ở các vùng có mật độ nuôi tôm cao.

5. Kết luận

Việc chuyển dịch từ lúa sang tôm ở vùng ĐBSCL đã dẫn đến một sự thay đổi sinh thái đáng kể ở các cộng đồng cư dân. Việc chuyển đổi này cho thấy môi trường của con người là một quá trình xã hội trong đó con người thường xuyên định hình môi trường sống của mình và họ phải thích nghi với môi trường nhân văn này bằng cách thay đổi đời sống kinh tế xã hội của họ. Trong quá trình chuyển dịch từ lúa sang tôm, do giá trị cao của con tôm nên việc nuôi tôm thường đem đến lợi nhuận cho nông dân cao hơn so với trồng lúa ở vùng nước lợ vốn có nhiều khó khăn. Tuy nhiên, đi cùng với tác động tích cực này, con người phải đối mặt với những loại rủi ro về kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy có nhiều chính sách hỗ trợ cho việc nuôi tôm nhưng việc thực thi chính sách còn thiếu quy hoạch và đồng bộ như chúng tôi đã phân tích đã làm cho bức tranh chuyển dịch này còn nhiều mảng gam màu xám. Trong quá trình thích nghi với sự biến đổi môi trường này, khi con người không thể thích nghi tại chỗ với sự thay đổi sinh thái thì di dân lao động là một sự lựa chọn tối ưu. Mặc dù quá trình di dân này là kết quả của bối cảnh dư thừa lao động trong nuôi tôm nhưng thực tế hai trường hợp nghiên cứu cho thấy nó còn là chỉ báo quan trọng của tính không bền vững của hoạt động kinh tế nông nghiệp trong bối cảnh tham gia thị trường mạnh mẽ của cư dân vùng ĐBSCL.

Tài liệu tham khảo

Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và Trung tâm thông tin Sài Gòn (2005), Tây Nam Bộ tiến vào thế kỷ 21, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Mai Trọng Thông, và các tác giả. 2006. Đánh giá mối quan hệ tự do hóa thương mại, đói nghèo nông thôn, môi trường trong nghề nuôi tôm.Báo cáo tóm tắt dự án.

Minh, T.H., A. Yakupitiyage and D.J. Macintoh, 2001. Management of the Integrated Mangrove- Aquaculture Farming Systems in the Mekong Delta of Vietnam. ITCZM Monograph No.1,

Nghị quyết 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.