Lý thuyết Nhân học thế kỷ XIX (phần 2)

Lý thuyết hiện nay trong lĩnh vực nhân học văn hóa xã hội đang suy thoái. Bài viết này hướng tới hai mục tiêu. Mục tiêu thứ nhất là chỉ ra lý do tại sao một dự án, dự án của các nhà phỏng đoán Geertizian, lại u ám như vậy. Mục tiêu thứ hai là đưa ra một phương pháp luận tiếp cận chân lý qua đó giúp cho ngành nghiên cứu này trở nên bớt nhàm chán. 

STEPHEN P. REYNA
Đại học New Hampshire
Người dịch: Nguyễn Quang, Đại học Ngoại Thương Hà Nội

TÓM TẮT

Lý thuyết hiện nay trong lĩnh vực nhân học văn hóa xã hội đang suy thoái. Bài viết này hướng tới hai mục tiêu. Mục tiêu thứ nhất là chỉ ra lý do tại sao một dự án, dự án của các nhà phỏng đoán Geertizian, lại u ám như vậy. Mục tiêu thứ hai là đưa ra một phương pháp luận tiếp cận chân lý qua đó giúp cho ngành nghiên cứu này trở nên bớt nhàm chán. Tiếp cận chân lý phát triển bằng cách chỉ ra những điều chưa rõ. Phương pháp này cung cấp thông tin về những điều cần biết mà người ta chưa biết để củng cố lý thuyết. Phương pháp luận này được áp dụng trên một khía cạnh nào đó vào các tác phẩm của Bourdieu, Comaroffs và Sahlin. Phương pháp luận này chỉ ra rằng, những học giả trên đi theo trật tự lý thuyết của Hegel/Sartre và chịu ảnh hưởng của một lỗ hổng. Lỗ hổng này, theo thuật ngữ của Sartre, có vẻ là “thuyết nhị nguyên không thể bác bỏ” giữa xã hội và chủ cách. Việc lấp đầy lỗ hổng này có lẽ là một kế hoạch xứng đáng nhằm đưa nhân học văn hóa xã hội ra khỏi những hạn chế của một lý thuyết nhàm chán.

CHỦ NGHĨA DUY TÂM CỦA GRAMSCIAN

Comaroffs trong cuốn “phát hiện và cách mạng” (Revelation & revolution - Sau đây gọi là R&R) miêu tả một kế hoạch viết “lịch sử theo phương thức nhân học” có tính đến sự hình thành thế giới xã hội của văn hoá, và liên hệ chúng đến việc giải thích “mối quan hệ giữa vật thể và ý nghĩa” (1991:38-9). Sự miêu tả này cho thấy họ vẫn bám sát trật tự do Hegel/Sartre tạo nên về sợi dây chuyền khái quát, giống như trong luận thuyết của Bourdieu, nhưng sợi dây chuyền chỉ gồm có hai viên ngọc, một viên văn hoá, một viên xã hội, và cùng với sợi dây chuyền này nó được hiểu đây là các thế giới “vật thể” và “ý nghĩa” được kết nối bằng một “mối quan hệ”. Dự án của họ xuất phát từ những nỗ lực ở Anh vào những vào những năm 1970 và 1980 nhằm thực hiện công việc của nhà bác sỹ người Ý Antonio Gramsci và khái niệm của ông về bành chướng (xem Hall, 1986; William, 1977). Comaroffs tuyên bố đi theo “luồng tư tưởng chính của Gramsci” (1991: 21). Họ làm như vậy bằng cách bối cảnh hoá khái niệm bành chướng trong một quang cảnh văn hoá. Tôi muốn lập luận rằng cách giải thích của họ về lĩnh vực văn hoá đã tiếp cận được lý thuyết về thế giới khách thể; và rằng lý thuyết này đưa ra quan điểm về lịch sử như là “một cuộc hội thoại dài”; một quan điểm mà theo chủ nghĩa duy tâm của Gramsci, chỉ lướt qua những cái xã hội.

Có bảy khái niệm quan trọng để hiểu các lĩnh vực văn hoá: văn hoá, tư tưởng, bành chướng, sức mạnh hưởng ứng, sức mạnh không hưởng ứng, ý thức và sự phản kháng chống lại. Văn hoá là “khoảng không gian triển khai thực tiễn, là nền tảng nghĩa trên đó con người tìm cách xây dựng và làm hiện thân bản thân mình và những cái khác – và từ đó mà có xã hội và lịch sử” (1991:21). Họ nghĩ về khoảng không gian này là lĩnh vực văn hoá, “một lĩnh vực mà các yếu tố biểu nghĩa được thiết lập theo lịch sử”

(1991:21). (Sự phân biệt sau đây có thể làm rõ giữa các trường của Bourdieu Comaroffs. Các trường của Bourdieu là các tổ chức về vốn và quyền lực. Các trường của Comaroffs là các tổ chức của các yếu tố biểu nghĩa). Các trường văn hoá không có “hình thái nước đôi” 1991: 27), cái này thuộc về bành chướng, cái kia thuộc về tư tưởng. Các khác biệt giữa tư tưởng và bành chướng phụ thuộc vào cách thức Comaroffs xem xét quyền lực.

Họ khẳng định rằng có hai biến thể về quyền lực, và rằng tư tưởng và bành chướng mỗi thứ gắn với một trong những biến thể quyền lực này. Quyền lực hỗ trợ là “khả năng tương đối của con người nhằm định hình hành động và nhận thức về những thứ khác bằng cách kiểm soát sản xuất lưu thông tiêu thụ các ký hiệu và vật thể tạo ra cái chủ quan và thực tại” (1991: 22). Quyền lực không hỗ trợ “nằm đầy rẫy bên ngoài vương quốc của các thể chế chính trị … và tác động của nó hiếm khi dẫn tới sự bùng nổ” (1991), tác động của nó “được cài đặt bên trong, dưới danh nghĩa tiêu cực là những hạn chế; danh nghĩa trung tính là các quy ước, danh nghĩa tích cực là các giá trị (1991). Không có yếu tố con người nào chỉ huy con người khác trong loại quyền lực này, bởi vì sự kiểm soát đã được nội tại hoá”. Cho nên Comaroffs tin rằng gọi loại quyền lực này là quyền lực không hỗ trợ là phù hợp. Bành chướng liên quan với quyền lực không hỗ trợ, còn tư tưởng liên quan đến quyền lực hỗ trợ vì những lý do sẽ được chi tiết hoá trong đoạn dưới đây.

Comaroffs định nghĩa tư tưởng theo quan điểm của Raymond Williams, như là một “thế giới quan về tập hợp xã hội” (1991:24). Cái tạo ra một thế giới quan như thế trong tư tưởng là cái “mang tính tập hợp” (1991) mà thành viên của nó là những tác nhân hỗ trợ. Các nhóm khác nhau, trên cơ sở cùng một nền văn hoá, hình thành các tư tưởng khác nhau, ví dụ như các nhóm ủng hộ và chống lại việc phá thai ở Mỹ. Tư tưởng được truyền bá công khai bởi các tác nhân hỗ trợ vì vậy người ta ý thức được về sự tồn tại của tư tưởng. Theo quan điểm của Marx & Angels, Comaroffs đã đi đến khẳng định rằng “tư tưởng còn lại của bất kỳ thời kỳ hay địa điểm nào sẽ là tư tưởng của nhóm thống trị” (1991).

Nếu tư tưởng là cái mang tính ý thức, thì bành chướng không mang tính ý thức. Nó là “trật tự của các ký hiệu và thực tiễn, các quan hệ và các phân biệt, các hình ảnh và các nhận thức rút ra từ các trường văn hoá được định vị theo lịch sử - và cái đó được coi là đương nhiên và nó nhận được sự định dạng thế giới và mọi thứ có trong nó” (1991:23). Còn bành chướng là “sự chia sẻ trong một cộng đồng chính trị” (1991:24). Và giống như khái niệm của Bourdieu và thói quen hay của Comaroffs về ý thức nó “bao gồm những yếu tố đương nhiên không cần bàn cãi, bởi vì nó không cần bàn cãi cho nên nó đương nhiên” (1991:23). Chính theo ý nghĩa này mà bành chướng là cái “không thể miêu tả được bằng lời” (1991:24); Hình thái không được đề cập không được ý thức của nhận thức và cũng không phải là nhận thức về cái xã hội hoặc cái tự nhiên.

Comaroffs (1991) tin rằng “tư tưởng và bành chướng tồn tại trong quan hệ phụ thuộc qua lại lẫn nhau” trong một trường văn hoá (tr.25). Sự phụ thuộc lẫn nhau này xuất hiện như một kết quả của cuộc “đối thoại dài”. Đôi khi trong những đối thoại này, “giữa cái ý thức và cái vô thức” “cái biểu nghĩa câm lặng và cái thực tiễn không đánh dấu” của bành chướng “phát triển lên đến cấp hiển thị ý thức, khẳng định tư tưởng…”(tr.26). Các kiểu bành chướng một khi đã xuất hiện có thể được biến đổi thành tư tưởng. Để hiểu quá trình này xảy ra như thế nào cần có khái niệm về ý thức mâu thuẫn.

Gramsci tiếp nhận khái niệm này từ Marx & Angels giống như Comaroffs lại lấy lại khái niệm này cuả Gramsci. Xong tài liệu của Comaroffs kiến thức mâu thuẫn là “sự ngắt quãng giữa (1) thế giới do bành chướng thiết lập và (2) thế giới theo nhận thức thực tiễn, theo biểu đạt tư tưởng của người bị trị” (1991: 26). Theo Comaroffs ý thức mâu thuẫn càng lớn, có nghĩa là khoảng cách giữa phương thức mà bành chướng muốn thực tại nên vậy và cách thức mà thực tại được nhận thức “sự khác biệt giữa chân lý không được đánh dấu và những quy ước không thành lời sẽ trở nên nổi bật, mở đường cho tranh luận” (1991). Việc đưa các ý tưởng về bành chướng vào trong sự hỗn loạn rối rắm của cuộc đấu tranh tư tưởng có lý do là vì ý thức mâu thuẫn “mở lối cho ý thức ngày càng sâu sắc hơn, chính xác hơn về các mâu thuẫn, và có thể là nguồn gốc của sự phản kháng ngày càng cụ thể và quyết liệt” (1991: 26).

Vậy lịch sử là gì? Lịch sử chủ yếu là R & R, là cái xảy ra trong các trường văn hoá, cái xảy ra trong các trường như thế, như Comaroffs đã nhấn mạnh trong một số nơi, là “cuộc hội thoại dài” vừa miêu tả (1991: 171, 198, 213, 243). Nếu chủ nghĩa duy tâm là một quan điểm là thực tại “phụ thuộc vào nhân thức (xác định hoặc không xác định) hoặc các ý tưởng (cụ thể hay tiếp biến) (Bynum st al, 1984: 199)”. Sau đó đến quan điểm của Comaroffs về thực tại lịch sử như là một cuộc hội thoại dài xoay quanh các khái niệm về tư tưởng và bành chướng, chắc hẳn mang hương vị của chủ nghĩa duy tâm. Nhưng một chủ nghĩa duy tâm như vậy không mang tính đặc thù Gramsci.

Gramsci không bao giờ đưa ra như Comaroffs đã viết, một định nghĩa chính xác về bành chướng (Lears, 1985: 568). Ông chính là một người Leninist bị thối rữa trong ngục tù của phát xít, với một ý thức sâu sắc rằng lịch sử cuối cùng sẽ được tạo ra từ những thay đổi về các “quan hệ bạo lực khác nhau” (Gramsci. 1988: 207). Những thay đổi này liên quan đến các dao động liên tục “giữa thời điểm thứ nhất và thứ ba, với sự hoà giải của cái thứ hai” (Gramsci. 1988: 207). Không đưa ra sự phóng đại về ý tưởng của Gramsi, độc giả cũng cần phải nắm được cái thời điểm thứ ba đó chính là thời điểm của vũ lực quân sự” (1988: 207). Cách hiểu của Comaroffs về bành trướng đã giúp nhiều người đã được sự bành trướng sau một “hội thoại dài” và do bành trướng là “vô thức”, sự chấp nhận kiểm soát của nó không được biểu đạt tường minh. Bành chướng của Gramsci liên quan đến “một tập hợp vũ lực và đồng thuận” cho phép “một nhóm cai trị chính” áp đặt “một định hướng chung cho cuộc sống xã hội” (1971: 12, 80). Vũ lực này như đã trình bày thường là bạo lực. Comaroffs cho rằng họ theo tư tưởng chính của Gramsci. Nhưng tôi cho rằng vì họ bỏ qua vũ lực cho nên họ đã theoPoltergeis. Bây giờ xin đưa sự phân tích quay trở lại những vấn đề xử lý cái xã hội trong R & R.

Tôi có hai mối quan tâm: (1)Comaroffs không nhấn mạnh sự quan sát cần cho việc hình thành khái niệm và (2) họ nhấn mạnh các khái niệm chưa có ý nghĩa thực nghiệm. Xin hãy xem xét ví dụ trường hợp sử dụng bạo lực. Họ thừa nhận tầm quan trọng của bạo lực khi họ nói rằng họ không “phủ nhận các cơ sở bạo lực ép buộc của đối kháng giai cấp và bất bình đẳng về chủng tộc ở Nam Phi “(1991:4). Mặc dù vậy, dù họ không phủ nhận sự tồn tại của bạo lực, họ đã đánh giá thấp bạo lực. Ví dụ họ kiên quyết rằng các nhà truyền giáo châu Âu “đã chứng tỏ bản thân họ là những công cụ hiệu quả trong đội quân xâm lược thuộc địa” (1991: 200). Điều này cho phép họ kết luận rằng “việc thuộc địa hoá châu Phi của châu Âu không phải là kết quả trực tiếp của một cuộc chinh phục ép buộc mà là kết quả của một nỗ lực thuyết phục nhằm thuộc địa hoá ý thức của người dân” (1991: 313). Một khẳng định như vậy tất nhiên không đánh giá hết vai trò của bạo lực đối với quá trình xâm lược thuộc địa vì nó khẳng định rằng quá trình thuộc địa hoá mang tính thuyết phục nhiều hơn tính ép buộc.

Tại sao phải thu nhỏ tầm quan trọng của bạo lực? Cuối cùng chính Jean Comaroffs đã phải thừa nhận rằng thực sự có một “ngón chính trị cai trị để áp bức cai trị” (Realpolitik of oppresion (1985: 261). Điều này liên quan đến các cuộc tàn sát gây thương tích, hiếp dâm, bỏ tù trẻ em, phụ nữ và đàn ông châu Phi của người châu Âu. Nó chính là sản phẩm của việc áp dụng mang tính hệ thống của Boer và người Anh về bạo lực thể xác trong 400 năm. Nam phi thuộc địa có thể có một cuộc đối thoại dài nhưng thực sự nó cũng đã có một cuộc chém giết cũng đã quá lâu dài. Comaroffs không có bằng chứng nào để thuyết minh rằng cái nói trước quan trọng hơn cái nói sau trong việc tạo ra bành trướng. Họ chỉ đơn giản khẳng định rằng đây là vấn đề có thật.

Comaroffs đưa ra một giải trình về cái xã hội ảnh hưởng đến bành trướng như thế nào với hai khái quát chính: Khái quát thứ nhất cho rằng phải biết cái gì đã xảy ra. Khái quát thứ hai cho rằng phải nhận ra tác nhân của cái xảy ra. Cái xảy ra chính là “chủ nghĩa thực dân đã hình thành một thứ bành trướng mới giữa và bất kể đối nghịch văn hoá” (1991: 18). Cụ thể hơn, các cha truyền đạo là “các tác nhân văn hoá tích cực của đế chế” (1991: 6). Một phần của thông điệp của các thánh nhuốm đầy trong nó ý tưởng tạo phấn sáp cho một chủ nghĩa bành trướng (1991:12).

Độc giả có thể phát hiện ra sự tương tự giữa một sự thanh minh tư tưởng lớn thế kỷ thứ 19 cho chủ nghĩa thực dân và hai khái quát hoá này. Các nhà tuyên truyền đế quốc lý giải bênh vực chủ nghĩa thực dân bởi vì họ tin rẳng chủ nghĩa thực dân mang văn minh đến cho người dân ngu dốt. Tất nhiên văn minh có nghĩa là thế nào theo tư tưởng này là một nhận thức châu Âu. Một quan niệm về văn minh như vậy nó giống với định nghĩa của Comaroffs về bành trướng giống với “một khái niệm thống trị” (1991: 23). Điều này có nghĩa là lý thuyết cho rằng chủ nghĩa thực dân mang lại sự bành trướng châu Âu “nền văn minh” tương đối giống với lý thuyết của những nhà tuyên truyền thế kỷ 19, những người khẳng định rằng chủ nghĩa thực dân mang đến nền văn minh (tức bành trướng châu Âu).

Mặc dù vậy cũng cần phải có một chút nghi ngờ liên quan đến sự tin tưởng của Comaroffs cho rằng các nhà truyên giáo là các tác nhân then chốt của công cuộc truyền bá bành trướng. Điều này là bởi vì các quan sát mà họ đã trình bày cho thấy chưa có bằng cớ nào cho thấy là các nhà truyền giáo lại quan trọng đến như vậy. Comaroffs nói rằng các nhà truyền giáo châu Âu cũng chẳng thuyết phục được bao nhiêu người theo tôn giáo của mình (1991: 311). Các tác giả trích dẫn lời của một nhà quan sát thế kỷ 19, người miêu tả các buổi giảng đạo trong đó “một vài người ngáy khò khò, một vài người cười hô hố, một vài người làm cái gì đó” (1991: 247). Thêm vào đó lại có một số thầy, một số nhà buôn, nhà báo và nhân viên quân sự cũng theo các khái niệm này của châu Âu. Tầm quan trọng tương đối của các tác nhân nói sau này trong bành trướng so với các nhà truyền giáo châu Âu không được trình bày trong R & R. Rõ ràng còn quá sớm để đưa ra kết luận liên quan đến tầm quan trọng của các nhà truyền giáo châu Âu như là tác nhân của bành trướng trong khi chưa có được các quan sát để làm rõ tầm quan trọng theo mối quan hệ nhân quả của các tác nhân khác.

Đoạn trên đây cho thấy rằng quan điểm của Comaroffs có một chỗ hổng. Các quan sát cho thấy bằng tư liệu một thực trạng tàn sát kéo dài ở Nam Phi. Đây là một cái gì đó mang tính xã hội và có thể có liên quan đến việc sản sinh bành trướng. Mặc dù vậy, bạo lực là cái bị bỏ qua trong trình bày của Comaroffs. Thay vào đó, bành trướng bén rễ như là một kết quả của cuộc hội thoại dài tiến hành bởi các cha truyền giáo, nhưng chính Comaroffs đã đưa ra bằng chứng rằng đây không chừng là một sự hiểu sai. Bởi vậy, R & R không thành lập các khái niệm về thực tại xã hội được cho là quan trọng. Những khái niệm thuộc về bạo lực trong khi nó lại tập trung vào các khái niệm khác, các cha truyền giáo, các khái niệm chưa có tầm quan trọng được xác định. Cho nên ở đây mới thấy chỗ hở ở phần trên.

Thế rồi lại còn một vấn đề liên quan đến việc làm rõ bành trướng ảnh hưởng đến cái xã hội như thế nào. R & R nói rằng các làn sóng bành trướng mới “dường như có năng lực phát động các thực tại mới về chất” (1991: 30). Từ “phát động” là một từ đồng nghĩa với gây ra. Điều này có nghĩa là Comaroffs đưa ra một khái quát; thay đổi bành trướng gây ra thay đổi thực tại. Điều này có lẽ đúng nhưng không có bằng chứng chứng minh là nó xảy ra như thế nào; có nghĩa rằng không có các khái niệm để trình bày về sự thay đổi trong bành trướng sẽ tạo ra sự thay đổi trong thực tại như thế nào. Đây là chỗ hở. Cần phải có các khái niệm làm rõ mối quan hệ bành trướng/thực tại. Nhưng thực tế là chưa có.

Rõ ràng là cái họ muốn khái quát hoá thành lý thuyết, đó là việc các cha truyền giáo đã tiến hành một cuộc hội thoại dài, không minh chứng một thực tại xã hội quan trọng, đó là bạo lực. Đây là chỗ hở. Thêm vào đó họ còn miễn cưỡng đề cập vấn đề cái chủ quan được gắn với cái xã hội thế nào. Đây cũng là cái hở nữa. Nói tóm lại trình bày của Comaroffs về trật tư Hegel/Sartre đã được xác lập tỏ ra có chỗ yếu và hở. Lúc trước người ta tưởng R & R nghiêng về chủ nghĩa duy tâm. Có lẽ chính vì thế mà người ta không thấy được cái xã hội và sự phức tạp với cái chủ quan. Nhằm đẩy mạnh tính hai mặt mà Sartre đã quan tâm. Bây giờ xin lưu ý đến Sahlins

Chủ nghĩa tân cấu trúc của Levi-StraussiSahlins đến Paris vào những năm 1960 với tư cách là một nhà duy vật văn hoá. Nhờ có sự gắn kết với Paris - chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hiện sinh, và các cuộc nổi loạn về giải trí – đã làm xuất hiện một con người mới, một nhà cấu trúc luận. Văn hoá và tư duy thực tại.

Văn hoá và căn nguyên thực tiễn (Culture and Practical Reason – 1976) sau đây gọi là CPR” lý giải cho quan hệ hình thái siêu hình này, lập luận rằng đã từng có hai trật tự lý thuyết được thiết lập vững chắc, đó là trật tự thực tại và trật tự tư duy văn hoá.

Tư duy thực tại tiến tới các lý thuyết cho rằng trong một chừng mực nào đó văn hoá nhân loại được hình thành nhờ hoạt động thực tại (1976: vii), bất kể đây là hoạt động kinh tế hay sinh thái. Sahlins trong CPR luôn cho rằng lý thuyết về tư duy thực tại là chưa hoàn chỉnh. Ông thậm chí còn tuyên bố đã phát hiện ra rằng cha đẻ của nhân học Hoa Kỳ, Boas đã từng tin vào tư duy văn hoá. Trải qua nhiều năm sau khi CPR được xuất bản, Sahlins đã sử dụng các tộc người châu Đại dương để chứng minh rằng tư duy văn hoá đã thúc đẩy nhận thức về các thực tại trên vùng Thái Bình Dương (1981, 1985).

Từ đó nảy sinh vấn đề. Gananath Obeyesekere đã phát triển một “nhánh” (1992: 8) liên quan đến một khía cạnh của công trình của Sahlins. Ông nói đã nghe Sahlins trình bày cách hiểu của ông về lối lý giải của người Hawaii về việc tại sao họ giết thuyền trưởng Cook. Cách hiểu của Sahlins là điều này xảy ra bởi vì người Hawaii tin rằng Cook là thần Lono của họ.

Obeyesekere nghĩ rằng điều này sai và viết cuốn giả thuyết về thuyền trưởng Cook (The Apotheosis of Captain Cook -1992) sau đây gọi là ACC để cho thấy rằng Sahlins chính là người thờ thần Lono. Thêm vào đó ông còn cho rằng Sahlins, trong tường trình sự việc của mình, đã trở thành tác nhân của “bạo lực và chủ nghĩa đế quốc phương Tây” (1995: 18). Sahlins đã giận dữ phản hồi. Tác phẩm“người bản xứ nghĩ về thuyền trưởng Cook - một ví dụ (Natives’ think, about Captain Cook For Example – 1995) sau đây gọi là HNT” là một sản phẩm giận dữ của cuộc nổi giận này.

Bình luận về tính bút chiến của HNC và ACC giống như bình luận thể thao với mục đích chính là dìm xuống đáy những gì đối tượng của mình đã giành được. Tôi sẽ không bình luận về HNC theo lối này bởi vì tôi tin rằng giá trị của nó nằm trong lý thuyết mà Sahlins đã tập hợp lại để lý giải việc Cook bị sát hại. Lý thuyết này là một biến thể của trình tự Hegel/Sartre đã được thiết lập. Lý thuyết này có thể được gọi là lý thuyết tân Lévi-Straussi bởi vì nó đưa thêm một số chi tiết mới cho chủ nghĩa cấu trúc cũ. Cái hay của cái này sẽ là chủ đề của các đoạn tiếp sau.

Lévi-Strauss nhìn đâu cũng ra cấu trúc. Các nhóm thân tộc cũng có cấu trúc. Các nền kinh tế cũng có cấu trúc. Thần thoại, khiêu vũ và cách nấu nướng đều có cấu trúc. Xa hơn nữa các cấu trúc này thậm chí lại có một cấu trúc sâu hơn đến từ “các cấu trúc cơ bản” của trí tuệ (1949). Về cuối đời, khái niệm này về cấu trúc cơ bản của ông được thay bằng “lược đồ khái niệm chi phối và xác định thực tiễn” (1966: 130). Thuật ngữ chi phối có nghĩa rất mạnh. Một cái gì đó chi phối một cái gì đó khác sẽ khiến cho một cái gì đó khác xảy ra. Mặc dù vậy Lévi-Strauss không quan tâm đến quá trình nhân quả này xảy ra thế nào.

Hãy nhớ rằng khi Sahlins trở về từ Paris và xuất bản CPR ông đã quyết định rằng có các lý do về văn hoá ứng dụng như là nguyên nhân của các hành động thực tiễn. Ông thậm chí còn tin rằng lý do văn hoá liên quan đến sự tồn tại trong nhân dân về một “khung biểu tượng xác định” (1976: viii) và rằng cách thức con người sinh sống là “chiểu theo khung này” bởi vì nó “tổ chức cuộc sống của họ” (1976: 176). Do các khái niệm có liên quan đến các biểu tượng, khung biểu tượng của Sahlins trở thành khung khái niệm của Lévi-Strauss. Xa hơn nữa do khung của Lévi-Strauss chiếm ưu thế “thống trị”, khung của Sahlins vẫn đóng vai trò “tổ chức” cho nên có thể nói khung của Lévi-Strauss là một sơ đồ lưỡng phân chi phối các loại cặp đó là sơ đồ của Lévi-Strauss.

Trong khi đó sơ đồ của Sahlins mang tính văn hoá tư sản tổ chức sự tiêu thụ khổng lồ các chất gây ra tử vong do bão hoà mở (giống như Hamberger). Và như vậy Sahlins trở thành Lévi-Strauss bằng cách tiếp nhận định đề “khung sơ đồ gây ra hành động thực tiễn”.

Mặc dù vậy, cũng giống như Lévi-Strauss, Sahlins trong CPR không bày tỏ quan niệm nào liên quan đến khung sơ đồ chi phối thực tiễn. Nếu thuật ngữ “tác nhân hành động” đề cập đến việc con người tiến hành sự việc như thế nào thì cả Lévi-Strauss và

Sahlins của CPR đều không chú ý đến vấn đề tác nhân hnàh động. Bắt đầu từ những năm 1970 một số học giả, từ Bourdieu (1988, 1989a) đến E.P.Thompson (1979) bắt đầu phàn nàn rằng không có khả năng lý giải vấn đề tác nhân hành động là một điểm yếu không thể chấp nhận được của chủ nghĩa cấu trúc. HNP đã đưa một tác nhân nào đó vào cây bút chì của chủ nghĩa cấu trúc của Lévi-Strauss.

Điều này xảy ra khi Sahlins quan tâm thuyết phục người đọc rằng có một “tổ chức văn hoá của mang tính khách quan thực nghiệm ” (1995: 169), và rằng tính khách quan trước hết là thuộc về thuật ngữ như nó được định nghĩa trong bài báo này, “nó được thiết lập theo cơ chế văn hoá”. (1995: 169 Lập luận của Sahlins là như sau. Con người có “nhận thức cảm giác”. Họ nhìn, ngửi v..v. từ những cảm quan này họ đưa ra các “nhận định thực nghiêm”. Họ nhìn thấy một con ngỗng, ngửi thấy mùi con ngỗng đang được nấu v..v. Và đây mới là điều căn bản, “Nhận thức cảm quan chưa phải là một đánh giá thực nghiệm” bởi vì cái gì mà được nhận thức mang ra đánh giá đều phải phụ thuộc vào “các tiêu chí khách quan” (1995:162). Các tiêu chí nói sau này là những hiểu biết của đối tuợng về nhận thức đã được “hình thành theo cơ chế văn hoá”. Điều này là bởi vì các khung cụ thể của các lý do văn hoá cụ thể đưa ra những tính chất về nhận thức, bất kể đó là nhận thực về thế giới bên ngoài hay về ý nghĩ của một cá nhân. Và như vậy, khi những người Hawaii cảm nhận nhận thức cảm quan về vật thể, Cook, bởi vì cái khung nhận thức Hawaii của họ về sự vật, Cook được tặng một đánh giá thực nghiệm, Lono, và đây là một đánh giá để đưa con ngỗng sống thành con ngỗng bị nấu!

Con người thực sự làm gì khi họ hình thành các nhận định thực nghiệm từ nhận thức cảm quan là vấn đề được đề cập đến trong Sahlins. Khi so sánh khung của người Hawaii với người trên các quần đảo Thái bình Dương Melanesian, như đã được thấy trong những giao tiếp ban đầu với người châu Âu, ông nhìn nhận “Về nhiều mặt khiến nhớ lại câu chuyện của Cook…những lời kể trực tiếp của người Melaneans cho thấy họ lục soát suốt trong kiến thức thường thấy của họ để tìm bất kỳ cái gì có thể tương ứng với nó và như vậy họ đạt được một lý giải mãn nguyện” hay một nhận định thực nghiệm (1995: 180). Sahlins tỏ ra là một người đưa ra khái niệm lục soát. Tôi sống ở đát nước này vào mùa hè năm ngoái, có một cậu bé ở thành phố đến chơi, câu bé cho bạn một hình ảnh bạn có thể tìm thấy trên các con phố nghèo khó của thành phố Qweens. Tôi đưa cậu lên xe đi dọc theo một con đường bẩn thỉu để tạo cho cậu ấn tượng về sự hấp dẫn thô sơ của vùng nông thôn. Cuộc sống hoang dã thật quá tồi tệ. Một con nai bị phóng lao đâm chết. Một con chim lớn xoã cánh, có lẽ đó là một con cú. “Tôi rất ấn tượng. Em nhìn thấy không?”. Cậu bé không nói gì. Cậu đang lục soát trong trí nhớ. Sau đó chúng tôi đi qua một cái cầu chui, một con sóc chết, xác bị nghiền phẳng. Đây không phải cái mà tôi buộc phải bình luận. Mặc dù vậy đây lại là một cái ở trong khung sự vật của cậu bé mà cậu biết và kêu to “nhìn kia, một con chuột chết”

Sahlins không đưa độc giả của mình đến chỗ hiểu biết khung này nó hoạt động như thế nào. Mặc dù vậy có vẻ như nó là một quá trình ở đó người ta có nhận thức cảm quan và lướt kiến thức cảm quan đó qua một dữ liệu trên khung của họ để đi đến một nhận xét hực nghiệm.

Đó là quá trình lấy sự cảm nhận từ vật thể và tìm kiếm qua các định nghĩa văn hoá về sự cảm nhận trong khung của mỗi người để ghép nó với sự cảm nhận có hiểu biết văn hoá. Cậu bé thành phố cảm nhận về một con sóc bị chết và đánh giá nó là một con chuột. Tôi cũng cảm nhận cùng một thứ nhưng lại đánh giá đó là “tai nạn giao thông”.

Bây giờ chúng ta sẽ đưa ra một vài nhận định để có thể đưa một tác nhân nào đó vào trong định đề rằng “khung nhận thức gây ra hành động thực tiễn”. Những nhận định này là: (1) con người có nhận thức cảm quan; (2) nhận thức được rà quét trên các yếu tố của khung để hình thành đánh giá thực nghiệm; và (3) đánh giá thực nghiệm hình thành cơ sở của hành động thực tiễn. Nhận định thứ hai có thể gọi là khái quát hoá nhờ sự rà quét và đây là điều làm cho Sahlins trở thành một tân Lévi-Strauss bởi vì nó đưa ra một cái gì đó mới, một nhận thức rằng chính quá trình rà quét đã chuyển dịch các khung nhận thức thành hành động thực tiễn. Sự phóng chiếu này tất nhiên đã nằm trong trật tự Hegel/Sartre thiết lập bởi vì nó có một sợi dây chuyền khái quát của hai viên ngọc: một khung nhận thức chủ quan và một thực tại xã hội, với một viên ngọc về chủ quan đính với viên xã hội bằng quá trình quét nhận thức.

Các nhà nghiên cứu cảm thấy như thế nào với khái quát hoá về quét tri thức? câu hỏi này được trả lời trong phần sau và sau đó lại nổi lên một câu hỏi khác. Trước hết hãy hưởng ứng việc Sahlins đưa ra bằng chứng trong HNT rằng trước thời điểm con người có nhận thức và sau thời điểm họ hình thành nhận định để đánh giá thực tiễn, và cuối cùng là trong thời gian xen giữa đó hành động quét đã gây ra một hình mẫu siêu hình về nhận thức thành một nhận định. Nhưng nếu như vậy quét là gì? Câu hỏi này không được trả lời trong HNT. Thuật ngữ này cũng không được đề cập đến trong bảng phụ lục. Khi được sử dụng thuật ngữ này không được định nghĩa. Không có bất kỳ một nỗ lực nào nhằm xác định các quan hệ chính xác giữa các sự kiện tương ứng với quét. Người đọc bị bỏ rơi tuỳ theo phương tiện của mình tự nghiên cứu như tôi đây, cứ cho rằng quét liên quan đến việc trải nhận thức trên toàn bộ các thành phần của khung. Nhưng trải nhận thức có nghĩa là gì? Thì đây chính là chỗ hổng. Chúng ta thừa biết rằng chúng ta chưa nắm được cụ thể về quá trình chuyển hoá nhận thức thành đánh giá và việc ta biết được quá trình đó sẽ giúp tăng cường khả năng của giả thuyết về quét nhằm lý giải cho việc sản sinh hành động thực tiễn.

Còn một khu vực thứ hai mà ta chưa biết về khái quát hoá quét đó là việc phải bàn đến các khác biệt giữa các điều kiện cần và đủ trong các nhận định nhân quả. Khái quát hoá cho rằng “nhận thức được quét qua trên các yếu tố của khung để hình thành các nhận định” là một khái quát mang tính nhân quả. Nhận thức quét khung là các yếu tố có trước, các X, các Y có nghĩa là những cái để hình thành hay đưa đến các nhận định Z. Điều kiện cần là các điều kiện phải xảy ra nếu các sự kiện mà nó là nguyên nhân xảy ra. Nếu X và Y là các nguyên nhân cần của Z, thì Z sẽ không bao giờ xảy ra nếu không có X và Y. Quét và nhận thức là các điều kiện cần, vì nhận định luôn luôn được hình thành sau nhận thức và quét.

Điều kiện đủ là các điều kiện luôn luôn được tiếp nối bởi các sự kiện mà nó là nguyên nhân. Nếu X và Y là điều kiện đủ của Z, thì bất kỳ khi nào X và Y xảy ra thì Z cũng xảy ra luôn. Đây là vấn đề. Người ta thường quan sát thấy rằng các cá nhân khác nhau của các nhóm người có thế có cùng một khung, cùng nhận thức cảm quan nhưng lại hình thành các nhận định thực nghiệm khác nhau. Steve trông thấy con nhím bị nghiền nát và đánh giá “tai nạn giao thông”. Cậu bé thành phố nhìn thấy đúng hiện tượng như vậy và đánh giá “chuột”.

Một quan sát như vậy cho thấy một điều là những kiến thức khi nhận thức và quét có thể là điều kiện cần thiết cho việc đánh giá, chúng không phải là điều kiện đủ. Những người có cùng một khung nhận thức có thể có những nhận định khác nhau. Điều này có nghĩa là có một loại sự kiện nào đó là chúng ta chưa biết là điều kiện đủ của những đánh giá khác nhau. Hiện thời không có khái niệm nào để biểu thị những sự kiện này. Điều này cho thấy tầm cỡ của khoảng trống trong kiến thức liên quan đến việc nhận thức và quét hình thành nhận định như thế nào để dến nó gây ra hành động thực tiễn.

MỔT LỖ HỔNG TRONG TRẬT TỰ ĐÃ ĐƯỢC THIẾT KẬP CHĂNG?

Trong phần phân tích định vị nhận thức trên của Bourdieu, lập luận của Comaroffs và Sahlins đã cho thấy rằng bằng những cách khác nhau chúng là các biến thể của trình tự Hegel/sartre đã được thiết lập. Xin nhớ rằng trình tự này được phân biệt bởi việc có (1) hai khai niệm cái xã hội và cái chủ quan và (2) hai quan hệ biểu thị cái xã hội liên quan đến cái chủ quan như thế nào và ngược lại. Các khái niệm chủ quan đối với Bourdieu đó là thói quen, đối với Comaroffsđó là trườngvăn hoá, và đối với Sahlins đó là khung nhận thức. Các khái niệm chủ quan là trường và thực tiễn theo Bourdieu, nhà truyền giáo hay thực tiện theo Comaroffs và thực tiễn theo Sahlins.

Phân tích trên không làm lộ ra nhiều khoảng trống trong trình tự được thiết lập. Mặc dù hình như Comaroffs rất nhấn mạnh vào việc các cha truyền giáo mang đến sự bành trướng mới cho người Tswana thì đây dường như cũng là một cái gì đó nhầm lẫn và bởi thế tạo một lỗ hổng trong sự hiểu biết về việc các thực tiễn xã hội thuộc địa liên quan đến các trường văn hoá chủ quan như thế nào. Dù sao cũng có quãng độ ba lỗ hổng trong việc trình bày về các mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa cái xã hội và cái chủ quan. Đó là lỗ hổng trong lý thuyết thực tiễn của Bourdieu liên quan đến việc trình bày các trường ảnh hưởng đến thói quen như thế nào. Lỗ hổng trong chủ nghĩa duy tâm Gramsci của Comaroffs xuất hiện trong trình bày về phương thức bành trướng trong các trường văn hoá ảnh hưởng đến thực tiễn như thế nào. cuối cùng là có lỗ hổng trong quy trình phóng chiếu phân Lévi – Strauss của Sahlins liên quan đến việc nhận thức và quét cho phép khung nhận thức tổ chức thực tiễn như thế nào.

Những lỗ hổng này tạo thành một khoảng trống. Trật tự Hegel/sartre tỏ ra không hiệu nghiệm lắm trong việc lý thuyết hoá về việc cái xã hội và cái chủ quan liên hệ với nhau như thế nào. Điều này có nghĩa rằng Sartre đúng. Trật tự cũ được xác lập trong đó Sartre là người thuyết trình đầy năng lực đã làm mờ nhạt đi được khoảng trống của môt. “thế lưỡng phân không thể vượt qua nổi” giữa cái xã hội và cái chủ quan.

Điểm cuối cùng dân tộc học về phương pháp luận nhận thức không phải là cái bỏ qua hoặc cái phủ nhận các lý thuyết có các điểm khiếm khuyết, các lỗ hổng và khoảng trống. Một cách đánh giá như vậy cho ra đời một quan điểm về lý thuyết phê phán để nhờ nó mà phát hiện ra được chỗ ta chưa biết nhằm xoá bỏ nó. Chỗ hổng, chỗ hở và khoảng trống được tìm ra để lấp bỏ. Điều này được tiến hành trong trường hợp khoảng trống bằng cách thay các khái niệm trình bày sai thực tế bằng những khái niệm biểu thị chúng với độ tiếp cận chân lý gần nhất. Có nhẽ, ví dụ. Comaroffs có thể trình bày các thực tại xã hội ở Nam Phi thuộc địa nếu họ cho thêm một khái niệm nào đó về bạo lực cho dây chuyền khái quát của họ.

Chỗ hở thì được lấp đầy bằng cách tìm các khái niệm tiếp cận chân lý biểu thị các thực tế chưa được trình bày. Ví dụ, dường như là rõ ràng có một chỗ hở trong kiến thức của Sahlins về việc nhận thức và quét cho phép khung nhận thức dẫn tới thực tiễn như thế nào. Nay vì nhận thức và quét hiện thực hoá khung lại xảy ra trong não bộ cho nên một phương thức khác cho rằng kiến thức về quét lớn hơn một khi có được sẽ là cái dành cho các nhà nhân học sinh học phải điều tra qua các sự kiện sinh học thần kinh gây chuyển dịch giữa việc tiếp thu nhận thức và hình thành đánh giá. Quan trọng ở đây là sự hiểu biết về cấu trúc sinh học trong đó các khung vận hành. Các nghiên cứu như thế không phải là sự hạ bệ xuống tầng sinh hoc. Ngược lại cái được của nó là để cho thấy khung nhận thức văn hoá và sinh học thần kinh tương tác như thế nào trong quá trình sản sinh đánh giá.

KẾT LUẬN

Một số nhà nghiên cứu nhân học nghiêm túc cho rằng câu chuyện phức tạp còn kéo dài. Nhân học đang trong buổi “chiều tà”. Geertz khẳng định chắc chắn rằng sẽ không còn bước tiến nào hơn nữa. Tôi tin rằng các lập luận trong bài báo này lại gợi ý một kết luận khác; và rằng việc thiết lập ba ưu tiên lại thúc đẩy sự tiến bộ về lý thuyết trong những năm 90 và sau đó. Điểm đầu tiên trong ba ưu tiên này đến từ việc hiểu bài học của các nhà làm ảo thuật. Bài học này là việc không lưu ý đến tính giá trị, tính khách quan và tính chân lý có nghĩa rằng các nhà ảo thuật đã hầu như không làm gì để phân biệt kiến thức mà họ đưa ra với kiến thức của các nhà quảng cáo. Một kiến thức như thế có thể “có hiệu quả” ở chỗ nó được người ta lắng nghe nhưng nó vẫn chỉ đơn thuần là các ấn tượng mang tính tin cậy chưa xác định. Tại sao lại đưa ra các kiến thức không tin cậy, trong khi có thể đưa ra những kiến thức gần chân lý? Mặc dù vậy những kiến thức như vậy vẫn phải có trong nhân học nếu việc thành lập các hệ thống theo tính giá trị trở thành ưu tiên trung tâm của công tác nghiên cứu nhân học.

Các tiến bộ về lý thuyết có thể đựơc hiểu như là sự vận động của lý thuyết theo các hướng khái quát hơn và tiếp cận chân lý hơn. Lý thuyết, tuy vậy, cần được xem xét có phê phán để đi theo các hướng này. Tư duy phê phán đòi hỏi một ưu tiên thứ hai, đó là sự tăng cường và ứng dụng các phương pháp tiếp cận chân lý.

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.