Tại sao chúng ta đi du lịch

Du lịch xoay chúng ta theo hai hướng cùng một lúc: nó cho chúng ta thấy quang cảnh, giá trị, và vấn đề mà ngày thường chúng ta có thể bỏ qua

PICO IYER

Người dịch: TS. Trương Thị Thu Hằng

Khoa Nhân học, trường Đại học KHXH và NV Tp.HCM

Trích trong tạp chí Salon Travel   

(Trích trong Paul Theroux (biên tập), 2001, The Best American Travel Writing 2001. NXB Houghton Mifflin, New York, trang 142-151)

Trước hết chúng ta đi là để thả lỏng bản thân, và tiếp đến chúng ta đi để tìm thấy chính mình. Chúng ta đi để mở con tim và đôi mắt của mình ra và học thêm nhiều điều về thế giới nhiều hơn những quyển tạp chí có thể trang bị cho chúng ta. Chúng ta đi để đem theo phần nhỏ bé mà chúng ta có thể, trong sự ngu dốt và kiến thức của mình, đến những miền đất trên quả địa cầu là nơi mà những chủ nhân của nó đón nhận sự giàu có mà họ được thụ hưởng một cách thờ ơ. Và về cơ bản chúng ta đi để lại trở thành những kẻ ngốc nghếch – để chậm nhịp thời gian và để bước vào, phiêu lưu vào tình ái một lần nữa. Vẻ đẹp của toàn bộ quá trình này có lẽ được miêu tả tốt nhất trước khi chúng ta thậm chí tiến hành những chuyến bay thường xuyên, bởi George Santayana trong bài luận đầy súc tích của ông là “Triết lý của du hành”. Nhà triết học của Đại học Harvard này đã viết rằng chúng ta “đôi khi cần thoát khỏi vào trong sự cô quạnh, trong sự vô định, trong một kì nghỉ có tính đạo đức khi trốn chạy những khó khăn rủi ro thuần tuý, để tạo nên những khúc quanh cuộc đời, để nếm thử mùi vị của sự khó nhọc và để được ép buộc phải làm việc một cách tuyệt vọng với bất kì giá nào.”
Tôi thích sự nhấn mạnh vào công việc như thế vì chưa bao giờ chúng ta thể hiện sự hạnh phúc, sự may mắn của chúng ta có tỉ lệ như thế nào so với những khó khăn trước đó trên đường mà chúng ta đang đi; và tôi thích sự nhấn mạnh vào một kì nghỉ có tính “đạo đức” vì chúng ta dễ dàng rơi vào thói quen đạo đức như là ngã mình lên giường hằng đêm. Hầu như không ai trong chúng ta quên đi mối liên hệ giữa “du hành” và “khó nhọc” và tôi biết rằng tôi đi đa phần là để tìm kiếm sự khó nhọc – cả sự khó nhọc của chính tôi, là thứ mà tôi muốn cảm nhận, và của những người khác, là cái mà tôi muốn thấy. Du lịch theo nghĩa đó sẽ hướng chúng ta đến một sự cân bằng hơn về sự thông thái và sự đồng cảm – của việc nhìn nhận thế giới rõ ràng, và cảm nhận nó một cách chân thật. Bởi vì nhìn mà không cảm rõ ràng có thể là không quan tâm; trong khi cảm mà không nhìn thì có thể là sự mù lòa.
Tuy vậy, đối với tôi niềm vui to lớn đầu tiên của sự du hành chỉ đơn giản là sự xa xỉ của việc bỏ lại mọi niềm tin và sư ổn định của mình ở lại nhà, và nhìn thấy mọi thứ mà tôi nghĩ là tôi đã biết dưới một ánh sáng khác, và từ một góc độ đầy khúc khuỷu. Về mặt này thì thậm chí chỉ cần một cửa hàng Gà Rán Kentucky (ở Bắc Kinh) hay là một show trình diễn tái hiện rời rạc cẩu thả của vở kịch Wild Orchids (ở đại lộ Champs-Elysées) cũng có thể vừa là mới lạ vừa là sự khám phá: Ở Trung Quốc, sau hết thì mỗi người sẽ dùng gần một tuần lương của họ để ăn món Colonel Sanders, và ở tại Paris thì Mickey Rourke được xem như là một diễn viên vĩ đại nhất từ thời Jerry Lewis.
Nếu như một nhà hàng Mông Cổ có vẻ lạ lẫm đối với chúng ta ở Evanston, Illinois, thì McDonald cũng sẽ có vẻ lạ lẫm ngần ấy ở Ulan Bator – hay là ít nhất cả hai đều cũng không giống như mong đợi. Mặc dù ngày nay mốt thời thượng là tạo ra sự khác biệt giữa “khách du lịch” (tourist) và “người lữ hành” (traveler), nhưng có lẽ sự phân biệt thực sự nằm ở chỗ những ai để lại sự tiêu dùng của mình ở nhà và những ai không làm như thế, và một du khách là người than phiền rằng “không có gì ở nơi đây giống như ở nhà cả”, trong khi một người lữ hành lại là người càu nhàu là “mọi thứ ở đây y như ở Cairo – hay là Cuzco hay Kathmandu.” Cả hai loại đều rất giống nhau.
Nhưng đối với tất cả chúng ta, sự tự do tối thượng của cuộc du hành xuất phát từ sự thật là nó xoay chúng ta vòng vòng và làm cho chúng ta lộn ngược lại và đặt mọi thứ mà ta vốn cho là đương nhiên lên trên. Nếu một tờ chứng chỉ có thể là một giấy thông hành (để đến một chuyến du hành thông qua thực tế khắc nghiệt), thì một thông hành có thể là một chứng chỉ (đối với một khóa học cam go trong tương đối luận văn hóa). Và bài học đầu tiên mà chúng ta học trên đường đi, cho dù chúng ta muốn hay không muốn, là những thứ mà chúng ta tưởng là có tính phổ quát lại có tính địa phương tỉnh lị và tạm thời làm sao. Ví dụ như khi bạn đến Bắc Triều Tiên, bạn thật sự cảm thấy như thể bạn đang đứng trên một hành tinh khác – và những người Bắc Hàn không nghi ngờ gì cũng sẽ cảm thấy rằng họ đang được viếng thăm bởi một người ngoài hành tinh (hay là họ chỉ đơn giản giả định rằng bạn cũng giống như họ là mỗi sáng đều nhận lệnh từ Chính quyền trung ương về việc sẽ mặc quần áo nào và đi làm trên con đường nào để, và bạn thì cũng như họ là cũng có loa phát thanh trong phòng ngủ phát những chương trình tuyên truyền vào mỗi sáng sớm, và rằng bạn cũng giống như họ, sẽ cài đặt radio cố định để nhận được chỉ duy nhất một đài mà thôi.
Rồi thì chúng ta đi một phần chỉ để cải tổ sự tự mãn của bản thân bằng cách nhìn vào tất cả những cấp bách về đạo đức và chính trị, vào những nan giải giữa sự sống và cái chết, là những thứ mà chúng ta hiếm khi đối diện khi ở nhà. Và chúng ta đi để lấp đầy khoảng trống trong những bảng tin nóng hổi vào sáng hôm sau: ví dụ như khi bạn lái xe dọc theo đại lộ Port-au-Prince, nơi mà hầu như không có vỉa hè và phụ nữ tiêu tiểu dọc theo những núi rác, khái niệm của bạn về Internet và về “trật tự thế giới duy nhất” được điều chỉnh lại một cách thật hữu ích. Du lịch là cách thức tốt nhất mà chúng ta có để giúp loài người ở khắp nơi và bảo vệ họ khỏi sự trừu tượng hóa và ý thức hệ hóa.
Và trong quá trình đó, chúng ta cũng được cứu khỏi sự trừu tượng hóa của chính mình, và trở nên thấy rõ rằng chúng ta có thể đem lại bao nhiêu điều đến nơi mà chúng ta thăm viếng, và rằng chúng ta có thể trở thành một loại chim bồ câu đưa thư như thế nào – một dạng tẩy chay dịch vụ chuyển phát nhanh Federal Express nếu bạn thích gọi như vậy – trong việc chuyển tải tới lui những gì mà mọi nền văn hóa đều cần đến. Tôi phát hiện rằng tôi luôn mang theo các tấm hình quảng cáo của Michael Jordan đến Kyoto và mang về California những giỏ hoa cắm theo kiểu ikebana; tôi luôn đi đến Cuba với một valy đầy những chai thuốc cảm Tylenol và thỏi sà phòng và rồi mang về Mỹ cả đống thuốc lá salsa cùng với niềm hi vọng và những bức thư nhờ gởi đến những người anh em thất lạc lâu ngày.
Nhưng quan trọng hơn, chúng ta mang theo những giá trị và niềm tin và tin tức đến những nơi chốn mà chúng ta đi du lịch và tại nhiều nơi trên thế giới, chúng ta trở thành những màn hình video di động và những quyển tạp chí sống, những kênh truyền hình duy nhất có thể mang người ta ra khỏi những giới hạn bị kiểm duyệt tại quê nhà của họ. Ở những nơi sống khép kín hay là nghèo khó, giống như Pagan hay Lhasa hay Havana, chúng ta là mắt là tai của những con người mà chúng ta gặp, là sự tiếp xúc duy nhất của họ với thế giới bên ngoài và rất thường xuyên, gần như là nghĩa đen, giúp đưa những người này đến gần nhất với Michael Jackson hay Bill Clinton. Vì vậy các thách thức của cuộc du lịch không kém phần quan trọng là việc học hỏi làm cách nào để xuất và nhập những giấc mơ cùng với sự dịu dàng.
Giờ đây chúng ta đều nghe nói đến (quá thường xuyên) về tuyến đường Proust cũ kĩ, về việc làm sao để cuộc du hành khám phá thật sự không phải bao hàm việc nhìn thấy những vùng đất mới mà là nhìn thấy với nhãn quang mới. Tuy vậy một trong những nét đẹp nhỏ nhoi hơn của du lịch là nó cho phép bạn mang theo những nhãn quang mới đến với những con người mà bạn sẽ bắt gặp, tiếp xúc. Vì vậy thậm chí những kì nghỉ cũng giúp bạn trân trọng quê nhà của mình hơn – bằng việc nhìn lại nó thông qua nhãn quan của một người chiêm ngưỡng từ xa – chúng giúp bạn mang nhãn quan đứng-xa-trân-trọng mới mẻ đến những nơi mà bạn thăm viếng. Bạn có thể dạy họ cái mà họ nên ca tụng cũng nhiều như bạn sẽ ca tụng cái mà họ dạy bạn nên làm. Tôi nghĩ rằng điều này chính là việc du lịch, mặc dù rõ ràng cũng tàn phá các nền văn hóa, cũng có thể làm hồi tỉnh hay hồi sinh văn hóa như thế nào, rằng du lịch đã tạo nên những điệu vũ “truyền thống” mới ở Bali và làm cho những nghệ nhân ở Ấn Độ có các mối quan tâm mới đến tác phẩm của mình như thế nào. Nếu vật đầu tiên chúng ta mang đến cho những người Cuba là một cảm giác thật và trung tính về nước Mỹ đương đại ra sao thì cái thứ hai, có lẽ quan trọng hơn – mà chúng ta có thể đem đến cho họ là một cảm giác tươi mát và duy tân về việc sự ấm áp và vẻ đẹp của đất nước họ đặc biệt ra sao đối với những người có thể so sánh Cuba với những nơi khác trên quả địa cầu.
Vì vậy du lịch xoay chúng ta theo hai hướng cùng một lúc: nó cho chúng ta thấy quang cảnh, giá trị, và vấn đề mà ngày thường chúng ta có thể bỏ qua; nhưng nó cũng cho chúng ta thấy một cách sâu sắc hơn tất cả những phần trong nội tâm chúng ta vốn có thể sẽ trở thành chai sạn. Vì trong khi đi đến một nơi chốn hoàn toàn xa lạ, chúng ta không thể tránh khỏi rơi vào những tâm trạng và trạng thái tinh thần khác nhau và những chuyển biến nội tâm mà thường ngày chúng ta hầu như không có dịp biết đến.
Một ví dụ ở mức độ cơ bản nhất như khi tôi ở Thái Lan, mặc dù là một người kiêng rượu thường đi ngủ lúc 9 giờ tối, nhưng tôi cũng đã thức đến tận hừng đông trong các quán rượu địa phương; và khi ở Tây Tạng, mặc dù không phải là một Phật tử thật sự, nhưng tôi cũng đã trải qua bao nhiêu ngày tại các tu viện, và nghe giảng kinh Phật. Tôi đã đến Iceland để viếng thăm những khoảng không gian huyền hoặc (lunar spaces) bên trong con người tôi, và trong sự tĩnh lặng huyền bí và sự trống rỗng của thế giới mênh mông và không có cây cối đó, tôi đã nối kết những phần rời rạc ở trong tôi vốn bình thường bị che phủ bởi sự huyên thuyên và nhịp điệu lặp đi lặp lại nhàm chán.
Rồi thì chúng ta đi để tìm ra cả cái tôi và sự khuyết danh – và, đương nhiên, để tìm ra cái phần mà chúng ta hiểu trong người khác. Nói rộng hơn, chúng ta tự do một cách tuyệt vời khỏi đẳng cấp và công việc và địa vị xã hội; chúng ta, giống như Hazlitt đã nói, chỉ là “những quý ông trong cửa hiệu”, và người ta không thể gắn một cái tên hay là một cái tước hiệu cho chúng ta. Và chính xác bởi vì chúng ta được phân loại bằng cách này, cho nên khi được giải phóng khỏi các danh hiệu không có thực đấy, chúng ta có cơ hội để tiếp xúc với những phần cơ bản, thực hơn của chúng ta (những phần vốn có thể bắt đầu giải thích tại sao chúng ta cảm thấy chúng ta đang sống nhất khi chúng ta đi xa khỏi nhà).
Nước ngoài là nơi chúng ta thức khuya, hành xử bốc đồng, và thấy mình thật trải lòng ra giống như khi chúng ta đang yêu. Chúng ta sống mà không có quá khứ hay tương lai, ít nhất là trong một khoảnh khắc, và mở lòng ra cho mọi người diễn giải. Chúng ta thậm chí có thể trở nên huyền bí – lúc đầu là đối với người khác, và đôi lúc đối với chính chúng ta – và chững chạc không kém như Oliver Cromwell đã từng ghi nhận, “một người đàn ông không bao giờ đi nếu anh ta không biết mình sẽ đi đâu.”
Đương nhiên cũng giống như đối với mọi loại tự do, việc này cũng có những mối nguy hiểm to lớn, nhưng sự hứa hẹn hấp dẫn của nó là khi du lịch chúng ta được sinh ra một lần nữa, và có thể trở về những khoảnh khắc non dại và một cái tôi rộng mở hơn. Du lịch là một cách để quay ngược thời gian, theo một mức độ nhỏ và có thể làm cho một ngày kéo dài ra thành một năm trời – hay ít nhất cũng là 48 giờ – và du lịch là một cách dễ dàng để bao phủ chúng ta với những điều chúng ta không thể hiểu nổi giống như lúc chúng ta còn thơ bé. Ngôn ngữ sẽ tạo điều kiện cho sự mở lòng ra này, vì khi chúng ta đến Pháp, chúng ta thường chuyển sang tiếng Pháp. Việc nói một ngoại ngữ chắt lọc ra một cái tôi giống như của trẻ con hơn, một cái tôi thật đơn thuần và lịch sự. Thậm chí khi tôi không nói tiếng Anh bồi ở Hà Nội, nhưng tôi được đơn giản hóa theo một cách thức tích cực và không quan tâm đến việc thể hiện chính mình ra sao mà tôi đơn giản chỉ là làm sao cho người ta hiểu tôi muốn nói gì mà thôi.
Vì vậy, đối với nhiều người trong chúng ta, du lịch là để tìm kiếm không chỉ cái chưa biết mà còn là cái không biết; ít nhất tôi đi du lịch để tìm cho mình một đôi mắt ngây thơ, một đôi mắt có thể đưa tôi về với một cái tôi thơ ngây hơn. Khi ở nước ngoài tôi có chiều hướng sẽ tin tưởng nhiều hơn so với khi ở nhà (một việc ít nhất cũng có thể giúp tôi mở rộng nhãn quang của mình ra mặc dù không thể tin cậy cho lắm) và tôi có xu hướng dễ thích thú hơn khi ở nước ngoài, thậm chí là tốt bụng hơn. Và bởi vì không ai mà tôi gặp có thể “đặt để” tôi – không ai có thể cố định tôi vào trong resume (lý lịch) của tôi – cho nên tôi có thể tái tạo chính mình tốt hơn, cũng như, đương nhiên là cũng có thể xấu hơn (vì nếu du lịch vốn có tiếng là cội rễ của những bản sắc giả, thì nó cũng có thể là cuộc thử thách gắt gao đối với những bản sắc thật). Bằng cách này, du lịch có thể là một loại tu viện di động: trên đường đi, chúng ta thường sống đơn giản hơn (thậm chí khi ở trong một khách sạn xa xỉ), không có tài sản gì nhiều hơn những thứ chúng ta mang theo mình, và để cho tình huống chi phối chúng ta.
Và đó là lý do tại sao rất nhiều người trong chúng ta đi để tìm kiếm không phải câu trả lời mà là những câu hỏi tốt hơn. Tôi cũng giống như nhiều người khác đều có xu hướng đặt ra những câu hỏi về những nơi mà tôi viếng thăm và thích thú với những nơi nào đã đặt ra những câu hỏi thăm dò về tôi. Ví dụ như là ở Paraguay, một xứ sở nơi mà cứ trong hai chiếc xe thì có một chiếc bị mất cắp và hai phần ba hàng hóa bày bán bị ăn cắp, thì tôi phải nghĩ lại về mọi sự tiêu dùng của người California. Và ở Thái Lan, xứ sở mà nhiều phụ nữ trẻ hi sinh cơ thể của mình để bảo vệ gia đình của họ – để trở thành những Phật tử tốt hơn – tôi đã phải tự hỏi về những định kiến sẵn có của mình.
Christopher Isherwood từng nói rằng “một quyển sách du lịch lý tưởng có lẽ nên giống với một câu chuyện tội phạm trong đó bạn đang đi truy tìm cái gì đó.” Và tôi sẽ cộng thêm vào rằng cái mà bạn tìm kiếm sẽ hay nhất nếu nó là cái mà bạn thật sự không bao giờ tìm thấy.
Tôi nhớ rằng trên thực tế là sau những chuyến đi đến vùng Đông Nam Á hơn một thập kỉ trước đây, tôi đã trở về với căn hộ của mình ở New York và ngã người lên giường, bị say do chênh lệch múi giờ, quay ngược kí ức hết lần này đến lần khác về tất cả những gì tôi đã trải qua và lần gở một cách đầy nuối tiếc những tấm ảnh mà tôi đã chụp, đọc đi đọc lại những trang nhật kí như thể để rút ra một vài điều huyền bí từ chúng. Bất kì ai chứng kiến cảnh tượng lạ lẫm này đều sẽ đi đến kết luận đầy đúng đắn rằng: tôi đang yêu.
Bởi vì nếu như mỗi một tình yêu đích thực có thể cảm thấy giống như một cuộc hành trình đến một đất nước xa lạ, nơi mà bạn không thể hoàn toàn nói được ngôn ngữ địa phương và không biết được bạn sẽ đi đâu và bạn bị lôi kéo sâu vào trong màn tối đầy mời gọi, thì mỗi cuộc du hành đến một nước xa lạ cũng có thể là một chuyện tình mà ở đó bạn bị bỏ rơi trong một sự hoang mang không biết bạn là ai và ai là người bạn đang yêu. Tất cả những quyển sách vĩ đại viết về du lịch đều là những câu chuyện tình, từ Odyssey và Aeneid cho đến Divine Comedy và Kinh Tân Ước, và tất cả những chuyến đi tốt đẹp đều, giống như tình yêu, được diễn ra bên ngoài con người bạn và được đặt vào trong đám bụi mù của sự kinh hoàng và kinh ngạc.
Và điều mà sự ẩn dụ này đem lại cho chúng ta là tất cả các chuyến du lịch đều là sự giao dịch hai chiều, như chúng ta thường dễ quên, và nếu chiến tranh là một mô hình của sự gặp gỡ giữa những quốc gia, thì sự lãng mạn là một mô hình thứ hai. Bởi vì cái mà chúng ta thường bỏ qua khi đi nước ngoài là việc chúng ta cũng là những đối tượng của sự dò xét tương đương như mức độ chúng ta dò xét về người địa phương, và chúng ta cũng đang được tiêu thụ bởi những chính nền văn hóa mà chúng ta tiêu thụ, cả khi chúng ta ở nhà và trên đường đi du lịch. Ít nhất, chúng ta là đối tượng của sự chiêm ngưỡng, dự khán (và thậm chí là mong ước), là những con người có vẻ thật xa lạ, lạ lẫm đối với những con người xung quanh chúng ta giống như vẻ xa lạ lạ lẫm của họ đối với chúng ta.
Chúng ta là những nhân vật khôi hài trong những phim gia đình của Nhật, những con người kì quái trong các giai thoại của người Malia, những chàng trai dễ bị lừa gạt trong những câu chuyện tiếu lâm Trung Hoa; chúng ta là những bưu thiếp di động hay là những nhà thơ kể chuyện quái dị mà những dân làng ở Peru sau đó sẽ kể lại với bạn bè của họ. Nếu du lịch là để gặp gỡ hiện thực, thì nó cũng không kém phần giao hòa với những ảo tưởng: bạn cho tôi nhãn quang mơ mộng về Tây Tạng, và tôi sẽ trao tặng cho bạn vùng California mà bạn đang ước ao đi đến. Và sự thật là thậm chí nhiều người trong chúng ta (hay cụ thể là) những ai trốn chạy khỏi nước Mỹ sẽ được gán cho, dù muốn dù không, những biểu tượng của Giấc mơ Mỹ.
Thực tế thì điều đó có lẽ là phần trung tâm nhất và xuyên tạc nhất của những câu hỏi mà du lịch đặt ra cho chúng ta: bạn có đáp lại những giấc mơ mà người khác kì vọng vào bạn hay không? Bạn có cổ xuý cho những khái niệm của họ về miền đất Sữa và Mật, thậm chí đó chính là những vùng đất mà bạn từng từ bỏ hay không? Hay là bạn có cố làm họ cụt hứng về một vùng đất chỉ tồn tại trong tâm trí họ không? Thật ra thì kích thích các giấc mơ của họ có lẽ cũng chính là đang mai mối họ với một ảo tưởng; tuy nhiên ném những giấc mơ đó đi lại có thể là tước bỏ của họ một thứ tài sản vốn giúp họ kéo dài cuộc sống trong nghịch cảnh.
Toàn bộ sự tương tác phức tạp đó – không giống như những tình huống tiến thoái lưỡng nan mà chúng ta đối diện cùng với những gì mà chúng ta yêu thích (làm sao chúng ta cân bằng giữa sự chân thành và sự tế nhị?) – phần nào là lí do của việc tại sao có quá nhiều các cây bút viết về du lịch là những kẻ nhiệt tình tự nhiên: không chỉ Pierre Loti, người rất nổi tiếng theo cách không hay chút nào, là kẻ phiêu lưu tình ái bất kì nơi nào mà ông hạ cánh (một thủy thủ điển hình để lại những hậu duệ trong hình thức của những truyền thuyếtMadame Butterfly), mà còn có cả Henry Miller, D. H. Lawrence, và Graham Greene, là những người tuyên bố một sự thật được che giấu rằng chúng ta sẵn sàng là những kẻ lạc quan khi ở nước ngoài cũng như là những kẻ bi quan khi ở nhà. Không ai trong số họ mù quáng về sự thiếu thốn của những nơi chốn xung quanh họ, nhưng tất cả đã chọn đi đến đó, nhằm tìm kiếm cái gì đấy để chiêm ngưỡng.
Theo nghĩa này, tất cả đều tin vào việc “bị làm cho rung động” như là một trong những điểm để quyết định việc đi du lịch, và việc “được chuyên chở” bởi những phương tiện giao thông cá nhân và công cộng; tất cả những ai nhìn thấy được cái “sung sướng tột độ” ấy đều nói với chúng ta rằng những khoảnh khắc thăng hoa nhất của chúng ta sẽ đến khi chúng ta không tĩnh tại, và rằng sự thăng hoa có thể theo sau sự di động cũng nhiều như khi lắng đọng. Tôi còn nhớ từng có lần đã hỏi một tác gia nổi tiếng viết về du lịch là Norman Lewis rằng ông có bao giờ hứng thú viết về chế độ Apartheid ở Nam Phi không. Ông đã nhìn tôi và rất kinh ngạc. Ông trả lời rằng “để viết tốt về một điều gì thì tôi phải thích nó mới được.”
Đồng thời, vì tất cả những điều này là thuộc tính bên trong của du lịch, cho nên từ Ovid đến O’Rourke, du lịch tự nó biến đổi khi thế giới biến động, và đó là nhiệm vụ của những người viết về du lịch. Ngày nay đi đến tận cùng những cực của trái đất vẫn không đủ (ít ra không phải vì những cực của trái đất này thường đến với bạn); và nếu như vài năm trước một tác giả như Jan Morris chỉ cần đi đến những thành phố lớn trên trái đất là có thể được cho là đã thật phi thường, thì giờ đây bất kì ai với thẻ tín dụng Visa cũng có thể làm được điều đó. Vì vậy, nếu trước đây Morris đã từng rất cố gắng để ghi chép những ngày cuối cùng của đế chế, thì giờ đây một cây bút trẻ viết về du lịch cũng có thể có được một vị trí tốt hơn để vẽ ra những ngày đầu của một đế chế mới, hậu chủ nghĩa dân tộc, toàn cầu, cơ động, nhưng lại cần cù mẫn cán như chế độ Raj (chế độ Anh cai trị ở Ấn – ND) trong việc chuyển tải những hình ảnh và giá trị của nó vòng quanh thế giới.
Vào giữa thế kỉ 19, người Anh đã gởi Kinh thánh, Shakespeare và môn bóng chày cricket vòng quanh thế giới, và giờ đây một loại thể chế có tính quốc tế hơn đang gởi Madonna và chị em nhà Simpson và Brad Pitt đi khắp địa cầu. Và cách thức mà mỗi nền văn hóa nhận lấy cái vốn tham khảo chung này bộc lộ cho bạn biết về họ cũng nhiều như là những sản phẩm bản địa của họ có thể cho bạn biết. Madonna ở tại một đất nước Hồi giáo nghe có vẻ hoàn toàn khác với một Madonna ở tại một quốc gia Khổng giáo, và cả hai đều không có nghĩa giống như là Madonna ở khu Đông đường 14. Khi bạn đi đến một cửa hàng McDonald ở Kyoto, bạn sẽ thấy món Burger teriyaki (thịt nướng) và bánh khoai tây thịt ba rọi xông khói. Nơi này trải ra cho bạn những bản đồ của những ngôi đền vĩ đại của thành phố, và những bảng quảng cáo xung quanh lại cho thấy những kì quan của San Francisco. Và – cơ bản nhất – những thanh niên ngấu nghiến những phần bánh mì MacDonald to đùng với nón kết bóng chày đội trên đầu quay ngược và quần jean loại 501 bó cứng, vẫn là người Nhật một cách tuyệt đối và không thể khác được trong cách mà họ di chuyển, cách họ gật đầu chào, cách họ húp trà Olong – và không bao giờ bị nhầm lẫn với những khách hàng tại những cửa hàng McDonald ở Rio, Morocco hay là Managua. Ngày nay một lãnh địa hoàn toàn mới của những điều lạ lẫm nổi lên vượt ra khỏi cách thức mà một nền văn hóa biểu hiện sắc thái và biến đổi những sản phẩm của những nền văn hóa khác cho thích hợp với nó.
Yếu tố khác làm cho tất cả những điều này phức tạp lên và hấp dẫn lên chính là những con người ngày càng đa ngữ điệu và lai căng ở những thành phố như Sydney hay Toronto hay Hongkong. Tôi là một loại người ngày càng trở nên tiêu biểu theo nhiều cách nào đó, chỉ vì tôi được sinh ra là con của cha mẹ là người Ấn, ở nước Anh, đến Mỹ lúc lên bảy, không thể thật sự gọi chính mình là người Ấn, người Mĩ, hay là một người Anh. Nói ngắn gọn hơn, tôi là một du hành gia từ khi sinh ra, một người mà thậm chí việc ghé qua một tiệm bánh kẹo cũng là một chuyến du hành đến một thế giới khác lạ, nơi mà không ai tôi nhìn thấy giống như là di truyền của bố mẹ tôi, hay là của chính tôi. Và mặc dù vài điều này không phải là tự nguyện và đầy bi kịch – số lượng của những người tị nạn trên thế giới vào năm 1970 đã là 2.5 triệu, giờ đây ít nhất cũng là 27.4 triệu – thật sự đối với vài người trong chúng ta nó liên quan đến việc quen với chuyện bản thân mình là những người ngoại cuộc ở mọi nơi, và bị buộc phải hóa trang cho chính mình một cảm giác khắc nghiệt của quê nhà. (Và nếu không đâu thật sự là nhà, chúng ta có thể lạc quan ở bất kì nơi nào).
Bên cạnh đó, thậm chí là những ai không đi vòng quanh thế giới cũng sẽ thấy thế giới đang di chuyển ngày càng nhiều xung quanh chúng ta. Chỉ cần đi bộ sáu khu nhà trong khu Queen hay là Berkeley thì bạn cũng đã và đang du lịch xuyên qua nhiều nền văn hóa, nhiều bằng số phút mà bạn đã đi; nhảy vào trong một chiếc taxi bên ngoài Nhà Trắng, và rồi bạn đang trong một góc Addis Ababa. Và kĩ thuật cũng giúp phức hợp cảm giác biến thiên này để nhiều người cảm thấy rằng họ có thể đi vòng quanh thế giới mà không cần phải rời khỏi phòng mình – thông qua không gian ảo hay là CD-Roms, video và những chuyến du lịch bằng hình ảnh. Đương nhiên là việc này có rất nhiều thách thức đối với những gì là khái niệm cơ bản của gia đình và cộng đồng và lòng trung thành, và nổi lo sợ rằng những phiên bản được điều hòa không khí và gán ghép thuần túy của những điểm đến có thể thay thế chỗ của những cái thật (ý ám chỉ những con người ngày càng xa lạ với bản thân mình - ND) – đó là chưa đề cập đến sự thật là thế giới dường như ngày càng bất ổn, và là một mục tiêu di chuyển còn nhanh hơn cả ý niệm của chúng ta về nó. Nhưng mà, ít nhất là đối với du khách, có một cảm nhận chung là việc học hỏi về quê hương và học hỏi về một thế giới xa lạ có thể là cũng chỉ là một và tương tự như nhau.
Tất cả chúng ta đều cảm giác được điều này từ cội nguồn, và biết rằng theo một ý nghĩa nào đó, tất cả những khoảnh khắc mà chúng ta có được đều là vĩnh cửu. Chúng ta đang du lịch khi chúng ta xem một bộ phim, hay thiết lập một tình bạn mới. Tiểu thuyết là những chuyến du hành cũng bình thường như sự thật là những quyển sách du lịch là những tác phẩm giả tưởng; và mặc dù đều này có thật, ít nhất từ thời của tác phẩm đầy màu sắc vào thế kỉ 14 của Sir John Mandeville về một vùng đất Viễn Đông mà ông chưa từng đi đến, thì ngày nay đó là một sự phân biệt lờ mờ giống như sự phân biệt giữa những đường biên giới đang bị sụp đổ.
Trong tác phẩm House Arrest của Mary Morris, một tác phẩm giả tưởng về đất nước Cuba của Castro, bà đã lặp lại, ngay trong trang copyright (các sách nước ngoài đều có trang tuyên bố về bản quyền của tác phẩm ở trang 3 – ND), “tất cả những đối thoại là được sáng tạo ra. Isabella, gia đình cô ấy, những cư dân, và thậm chí la isla cũng chỉ là sự sáng tạo từ trí tưởng tượng của tác giả.” Tuy vậy ở trang 172 tác giả lại viết là “La isla, đương nhiên, là có thật. Đừng để bất kì ai chế giễu bạn về điều đó. Chỉ là chúng ta cảm thấy như là nó không có thật. Nhưng mà nó có thật.” Không ai tự hỏi liệu nhà tường thuật chuyên viết về du lịch – một nhà tưởng tượng (hay không phải vậy?) – có thú nhận là đã cống hiến những trang tạp chí du lịch của bà cho những nơi không từng tồn tại hay không. Sau cùng thì “Erewhon”, vùng đất chưa được khám phá trong tiểu thuyết du hành vĩ đại của Samuel Butler cũng chỉ là một nơi “không đâu cả” đã được sắp đặt lên.
Rồi thì du lịch là một cuộc du hành vào những vùng đất nổi tiếng theo một cách thức có tính chủ quan, sự tưởng tượng, và cái mà người du hành mang về là – và phải là – một sự phức hợp không thể xóa nhòa giữa chính anh ta và nơi chốn đó, cái gì thật sự có ở đó và những gì chỉ tồn tại trong đầu anh ta. Vì vậy những tác phẩm của Bruce Chatwin dường như nhảy múa xung quanh sự phân biệt giữa cái thật và cái tưởng tượng. Quyển sách gần đây của V.S.Naipaul A Way in the World được xuất bản như là một trong một “loạt” những tác phẩm không phải là tưởng tượng (nghĩa là truyện có thật - ND) ở Anh và là một “tiểu thuyết” tại Mĩ. Và khi vài câu chuyện trong một tác phẩm nữa hồi kí nữa sáng tác của Paul Theroux, quyển My Other Life, được công bố trên tờ The New Yorker, chúng được phân loại một cách chung chung là “thật và giả tưởng”.
Và vì du lịch theo một nghĩa nào đó là đến với sự thông đồng của nhận thức và tưởng tượng, cho nên đối với tôi, hai tác gia vĩ đại viết về du lịch mà tôi thường trích dẫn chính là Emerson và Thoreau (một người đã khuyên rằng “du lịch là một thiên đường của kẻ ngốc” và người kia là người “đã đi nhiều trên máy bay Concord”). Cả hai ông đều khẳng định một sự thật rằng hiện thực là sự sáng tạo của chúng ta, và rằng chúng ta tạo ra các nơi chốn mà chúng ta thấy cũng nhiều như những quyển sách mà chúng ta đọc tạo ra vậy. Cái mà chúng ta tìm thấy bên ngoài bản thân chúng ta phải là nằm chờ sẵn trong chính chúng ta để cho chúng ta tìm gặp. Hay như ngài Thomas Browne đã nói “chúng ta mang theo trong mình những kì quan mà chúng ta tìm kiếm bên ngoài chúng ta. Bên trong chúng ta có Châu Phi và sự diệu kì của nó.”
Vì vậy nếu ngày càng nhiều người trong chúng ta phải mang theo cảm giác về quê nhà ở trong lòng, thì như Emerson và Thoreau đã nhắc nhở, chúng ta phải mang theo mình cảm giác về đích đến. Những hòn đảo Thái Bình Dương quý giá nhất mà chúng ta khám phá sẽ luôn là sự trải rộng mênh mông bên trong chúng ta, và vùng Crossing ở Tây Bắc quan trọng nhất mà chúng ta băng ngang qua là ở trong tim ta. Ưu điểm của việc tìm ra một Kim Các Tự ở Kyoto là nó cho phép bạn mang theo một Kim Các Tự riêng vĩnh cửu hơn về văn phòng của bạn ở trung tâm Rockefeller.
Và thậm chí khi thế giới dường như trở nên ngày càng kiệt quệ, thì các chuyến du lịch của chúng ta lại không như thế và một số ít quyển sách viết về du lịch tốt nhất trong những năm vừa qua chính là những quyển thực hiện một cuộc du hành song song, gắn kết những bước chân trần của một chuyến hành hương với những bước đi siêu hình của một sự nghi vấn (giống như trong tác phẩm The Snow Leopard của Peter Matthiessen) hay ghi nhận một cuộc hành trình đến với những cuộc tìm kiếm xa nhất về sự lạ lẫm của con người (giống như trong tác phẩm Island of the Colorblind của Oliver Sack, miêu tả một cuộc hành trình không chỉ đến một vùng đảo san hô xa xôi ở Thái Bình Dương mà còn là đến với một lãnh địa nơi mà con người thật sự nhìn thấy ánh sáng theo những cách khác nhau). Những bờ biển xa xôi nhất mà chúng ta được gợi nhớ tới nằm trong chính con người đang say ngủ bên cạnh chúng ta.
Vậy thì du lịch về cốt lõi chỉ là một cách thức nhanh chóng để giữ tâm trí chúng ta luôn cơ động và tỉnh táo. Như Santayana, kẻ thừa kế của Emerson và Thoreau, đã viết là “có một sự thông thái trong việc biến cái thân quen thành cái không quen càng thường xuyên càng tốt; nó giữ cho trí óc linh lợi; nó giết chết định kiến, và nó nuôi dưỡng sự khôi hài”. Những nhà thơ lãng mạn khai mạc một kỉ nguyên du lịch bởi vì họ là những ông tổ truyền giáo vĩ đại với những đôi nhãn quang luôn rộng mở. Những nhà sư Phật giáo thường là những người du hành, một phần vì họ tin vào sự giác ngộ. Và nếu du lịch giống như tình yêu, cuối cùng thì nó gần đúng như vậy vì nó là một trạng thái nhận biết cao độ, một trạng thái mà trong đó chúng ta quan tâm, dễ tiếp thu, không bị mờ đi vì sự thân thuộc và sẳn sàng để được biến đổi. Đó là lí do tại sao những chuyến du lịch đẹp nhất, giống như những cuộc tình đẹp nhất sẽ không bao giờ thật sự kết thúc.

 

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.