Ranh giới xã hội giữa người Cil và Kơho (Nghiên cứu trường hợp xã Ninh Gia, Huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng)

Lâm Đồng là một tỉnh Tây Nguyên ở Việt Nam, nơi có nhiều thành phần tộc người sinh sống. Đáng chú ý, tên gọi của các nhóm tộc người thường thay đổi trong tiến trình lịch sử. Luôn có hiện tượng mất dần những tên gọi không còn ý nghĩa trên thực tế với các tộc người. Ngược lại, cũng do nhiều yếu tố, nhất là quá trình di cư, nhiều nhóm cùng một cộng đồng dân tộc lại mang những tộc danh khác nhau (Mạc Đường, 1983, tr. 27).

ThS. Phạm Thanh Thôi

1. Người Cil và Kơho Ở Lâm Đồng

Lâm Đồng là một tỉnh Tây Nguyên ở Việt Nam, nơi có nhiều thành phần tộc người sinh sống. Đáng chú ý, tên gọi của các nhóm tộc người thường thay đổi trong tiến trình lịch sử. Luôn có hiện tượng mất dần những tên gọi không còn ý nghĩa trên thực tế với các tộc người. Ngược lại, cũng do nhiều yếu tố, nhất là quá trình di cư, nhiều nhóm cùng một cộng đồng dân tộc lại mang những tộc danh khác nhau (Mạc Đường, 1983, tr. 27). Trước năm 1960, người Cil (Kơho Chil) chủ yếu sống trên cao nguyên Lâm Viên, tỉnh Lâm Đồng, nơi có nhiều đồi núi cao trên 1.500m, thuộc hướng Đông Bắc thành phố Đà Lạt. Các hộ gia đình người Cil du canh luân khoảnh để chặt, đốt và gieo trồng bắp. Mỗibon(1) (làng) và mỗi dòng họ có ranh giới đất đai riêng của mình. Trưởng dòng họ hay già làng của bon là người hiểu biết rõ về phạm vi sở hữu đất đai của cư dân và cũng là người làm chứng nếu có tranh chấp. Sau khi phát và trồng tỉa rồi bỏ hoang thì cây rừng lại phủ kín, nhưng quyền sử dụng khu đất ấy vẫn thuộc về dòng họ và gia đình đầu tiên khai phá.

Từ sau năm 1960, người Cil trải qua quá trình thay đổi “không gian sinh tồn”, do tác động quản lý của chính quyền. Khi bắt đầu cuộc chiến tranh, chính quyền Việt Nam Cộng hòa buộc họ phải rời khỏi bon trong những khu rừng già để đi “tị nạn cộng sản”. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa cùng các chức sắc tôn giáo (linh mục, mục sư) hướng dẫn các bon chọn nơi định cư để ổn định cuộc sống.

Tại đây các bon lần lượt được các mục sư Tin Lành truyền đạo. Chỉ riêng người Cil ở bon Ja (xã Đưng Knơh) và người Cil ở Bra Yang (Di Linh) thì theo đạo Công giáo(2).

Giữa thập niên 1960, khi chiến tranh ở Tây Nguyên ác liệt hơn, những khu tập trung của các bon bị bao bọc bởi hàng rào và hầm chông để chính quyền dễ kiểm soát người ra, người vào, gọi là các “ấp chiến lược”.

Sau năm 1975, nhiều người Cil đã có ý định quay trở về bon cũ trong các khu rừng già. Nhưng từ năm 1976 đến năm 1988, phần lớn những khu vực rừng già, nơi người Cil đã từng cư trú lại trở thành những căn cứ hoạt động của lực lượng FULRO(3). Hơn nữa, để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân tộc thiểu số theo hướng văn minh, chính quyền đã đẩy mạnh chương trình định canh định cư. Các bon của người Cil được qui hoạch định cư gần kề với những cộng đồng người Kinh, Kơho-Srê, Kơho-Lạch, M’nông, Churu, v.v tại các vùng đất đồi thấp, nơi chính quyền cơ sở cấp xã có thể quản lý được.

Định cư tại một chỗ, trồng thâm canh các loại cây như lúa, bắp, khoai mì, và sau này là hồng, cà phê dần trở thành hoạt động kinh tế chính của các hộ gia đình người Cil. Sản phẩm kinh tế của người Cil hiện không còn là bắp, lúa, heo, gà được nuôi trồng theo phương thức “du canh du cư” và “tự cung tự cấp” nữa. Trong quá trình định canh định cư, người Cil đã được cán bộ địa phương hướng dẫn kỹ thuật, được cấp và hỗ trợ giống cây trồng, phân bón. Sản phẩm trồng trọt chủ yếu để bán trên thị trường. Chất lượng cuộc sống theo đó cũng phụ thuộc vào năng suất cây trồng và giá cả của thị trường.

Về người Kơho (Srê), họ cư trú chủ yếu ở vùng phía Nam của thành phố Đà Lạt (như các huyện Đức Trọng, Lâm Hà, Đơn Dương, Di Linh, Bảo Lộc, v.v). Người Kơho đã tiếp nhận đạo Công giáo khá sớm. Phần lớn các bon người Kơho sau năm 1954 đã sống gần kề với người Kinh ở Lâm Đồng. Trước và sau năm 1975, họ đều đi lễ cầu nguyện chung một nhà thờ với người Kinh, và chịu lễ của các linh mục người Kinh. Về không gian sinh tồn, khác với người Cil – du canh du cư, người Kơho sống nơi có nhiều ruộng nước, trồng lúa và nuôi trâu. Người Kơho cũng có cấu trúc xã hội mẫu hệ, nhưng các đặc điểm về phong tục cưới xin, chôn cất người chết, và tiếng nói (âm lượng, giọng điệu, một số từ ngữ) khác với người Cil. Người Kơho và người Cil, trong lịch sử trước năm 1960, chưa từng thiết lập mối quan hệ hôn nhân nào. Người Kơho có câu “trâu thì lấy trâu, bò thì lấy bò”, người Kơho và người Cil không thể lấy nhau được, vì từ xưa, phong tục và cách làm ăn, sinh sống của họ đã khác nhau.

Từ năm 2004 đến nay, chúng tôi đã tiến hành nhiều đợt điền dã nghiên cứu về sự biến đổi của các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng. Tại huyện Đức Trọng, chúng tôi có nghe một số người Cil nói rằng, người Cil ở Đăng Srôn (xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng) đã thành người Kơho hết rồi. Trong một số lần trao đổi với cán bộ phụ trách văn hóa và dân tộc ở huyện Đức Trọng, họ cũng nói, ở Đăng Srôn không có người Cil, đó là khu vực của người Kơho. Có cán bộ giải thích thêm, người Cil ở Đăng Srôn đã bị “Kơho hóa” rồi? Thực tế ở Đăng Srôn có người Cil không? Họ từ đâu đến và đã bị “Kơho hóa” như thế nào? Tại sao cán bộ địa phương và một số người Cil lại nói như vậy? Thực tế, có ranh giới nào để phân định người Cil và người Kơho đang sống ở khu vực này? Đó là những câu hỏi mà chúng tôi đặt ra và tìm cách giải đáp.



 Còn tiếp xem ở file tại đây


Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.