"Luận về biếu tặng" của Marcel Mauss

Cuốn Luận về biếu tặng của Marcel Mauss là một công trình “khảo cổ học về bản chất của các giao dịch của con người” nhằm đi tìm những chiều kích nhân văn vốn tồn tại trong các mối quan hệ trao đổi giữa các cộng đồng cổ sơ. Khái niệm “sự kiện xã hội tổng thể” cũng như lối tiếp cận lý thuyết từ quan điểm của người bản địa của Mauss đã tạo ra một thứ hệ hình mới mẻ, dẫn đến một bước ngoặt quan trọng trong tư duy khoa học xã hội trong thế kỷ 20, và cho đến tận ngày nay vẫn còn tiếp tục gây ra cả sự hứng thú lẫn sự tranh luận trong nhiều công trình nghiên cứu nhân học và xã hội học



 Marcel Mauss (1872-1950), người được coi là cha đẻ của ngành nhân học Pháp và một trong những nhà sáng lập của ngành nhân học, đã nghiên cứu về hiện tượng trao đổi (échange) trong các xã hội nguyên thủy và xã hội cổ sơ thông qua các hành vi biếu tặng (don) và đáp tặng (contre-don) trong cuốn sách nổi tiếng Luận về biếu tặng (LVBT). Bản gốc tiếng Pháp mang tên là Essai sur le don. Forme et raison de l’échange dans les sociétés primitives, in lần đầu tiên trong tập san L'Année sociologique (Nouvelle série, Tome I) năm 1923-1924, sau đó được in lại trong cuốn Sociologie et anthropologie cũng của Marcel Mauss (Paris, PUF, 1950, tr. IX-LII).
 Công trình thường được coi là cuốn sách gối đầu giường này của giới nhân học, dân tộc học và xã hội học vừa được dịch ra tiếng Việt bởi nhà dân tộc học Nguyễn Tùng, một nhà nghiên cứu từng làm việc gần 40 năm trong Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS).  Đây là một bản dịch nghiêm túc, trung thành, với văn phong sáng sủa và dễ đọc. 
 Công trình này của Mauss bao gồm những phần sau đây : Dẫn nhập (Về sự biếu tặng, và đặc biệt về sự bắt buộc phải đáp tặng các món quà), Chương 1 (Các quà tặng được trao đổi và sự bắt buộc phải đáp tặng), Chương 2 (Sự lan rộng của hệ thống này : hào phóng, danh dự, tiền tệ), Chương 3 (Tàn dư của các nguyên tắc nói trên trong các luật lệ cổ và các nền kinh tế cổ), và Chương 4 (Kết luận). Ngoài ra, đáng chú ý là ấn bản tiếng Việt của nhà xuất bản Tri thức còn có bài của Claude Lévi-Strauss (Dẫn nhập vào sự nghiệp nghiên cứu của Marcel Mauss) và bài của Florence Weber (Hướng đến một dân tộc chí về các cung ứng không thông qua thị trường), do dịch giả Nguyễn Tùng chọn lọc và dịch.
 Trao đổi là hoạt động chuyển nhượng vật phẩm giữa các tác nhân xã hội. Các vật phẩm này có thể là vật chất hay phi vật chất, con người hay động vật, đồ vật hay ngôn từ. Các tác nhân tiến hành sự trao đổi có thể là cá nhân, nhóm, cộng đồng hay các vị thần linh (chẳng hạn khi cúng tế cho thần linh). Sự trao đổi là một hiện tượng phổ quát, bao trùm cuộc sống xã hội loài người : không ai không trao đổi trong cuộc sống, từ những xã hội nguyên thủy cho tới những xã hội hiện đại. 
 Cuốn LVBT, theo lời của Marcel Mauss, là một công trình “khảo cổ học về bản chất của các giao dịch của con người” (tr. 178),  nhằm đi tìm câu trả lời cho hai câu hỏi sau đây : “Trong các xã hội cổ sơ, quy tắc luật lệ và quy tắc lợi ích nào làm cho sau khi nhận một món quà thì phải đáp tặng bằng một món quà khác ? Trong đồ vật mà người ta biếu, có sức mạnh nào bắt người nhận nó phải đáp tặng cho người đã biếu ?” (tr. 178-179).
Trao đổi và khế ước, biếu tặng và đáp tặng
 Dựa trên nhiều kết quả khảo sát dân tộc học, đặc biệt là của Franz Boas (1858-1942) về tập tục potlatch của người da đỏ vùng Bắc Mỹ và của Bronislaw Malinowski (1884-1942) về tập tục kula ở quần đảo Trobriand (Melanesia), Mauss nhận xét rằng hành vi biếu tặng và đáp tặng nhìn bề ngoài thì mang tính chất tự nguyện, vô vụ lợi, nhưng thực ra là bó buộc và vụ lợi. Người ta có bổn phận phải biếu tặng, phải đón nhận quà tặng, và phải đáp tặng, thường là với mức “lãi nặng”, tức là quà đáp tặng thường nhiều hơn so với quà tặng ban đầu. Từ chối một món quà là một sự xúc phạm, đôi khi bị coi là lời tuyên chiến. Nguyên tắc có qua có lại (tương hỗ, réciprocité) làm cho quà tặng hầu như lúc nào cũng mang tính ràng buộc.
 Mauss cho rằng sự trao đổi nơi các xã hội cổ sơ “hoàn toàn không ở vào trạng thái tự nhiên về mặt luật lệ cũng như về mặt kinh tế” như nhiều nhà nghiên cứu lầm tưởng (tr. 182-183). Trong các xã hội ấy, “không phải các cá nhân, mà chính các tập thể bắt buộc lẫn nhau, trao đổi và giao ước” (tr. 183), hay nói cách khác, những sự trao đổi này diễn ra trong khuôn khổ của những định chế nhất định, phụ thuộc vào những khế ước  nhất định. “[C]ái mà họ trao đổi, không hoàn toàn chỉ là của cải, vật quý giá, động sản và bất động sản, những đồ vật hữu ích về kinh tế. Trước hết đó là các lời nói và cử chỉ lễ phép, tiệc tùng, nghi thức, nghĩa vụ quân sự, phụ nữ, trẻ em, nhảy múa, lễ hội, chợ phiên (...) ở đó sự lưu thông của cải chỉ là một trong các điều khoản của một hợp đồng tổng quát và bền vững hơn rất nhiều” (tr. 184-185). Mauss gọi toàn bộ những hiện tượng này là “hệ thống cung ứng toàn bộ” (système des prestations totales) (tr. 185). 
 Theo Mauss, những tập tục như potlatch của các bộ tộc da đỏ vùng Bắc Mỹ hay kula ở Melanesia đều là những “tổng thể phức tạp (complexus) về kinh tế, pháp lý và tinh thần” (tr. 248), trong đó những hành vi tặng và đáp tặng mặc dù mang hình thái biếu tặng nhưng thực tế đã mở ra những hình thức trao đổi của cải và vật phẩm giữa các cộng đồng bộ tộc. Mauss đã dịch sang tiếng Pháp đoạn phân tích của Bronislaw Malinowski : “Tất cả đời sống bộ lạc chỉ là một chuỗi ‘cho và nhận’ [give and take] không bao giờ dứt ; mọi lễ lạt, mọi hành vi hợp pháp và theo tục lệ đều chỉ được làm với một món quà vật chất và món quà đáp tặng lại [gift and counter gift] đi kèm theo chúng ; của cải được cho và được nhận là một trong các công cụ chính của tổ chức xã hội, của quyền lực của người thủ lĩnh, của liên hệ thân tộc do huyết thống và các liên hệ thân tộc do hôn nhân” (tr. 264) (chỗ nhấn mạnh là do chúng tôi, T.H.Q.).  
Đặc điểm của nền kinh tế thị trường cổ sơ
 Điểm độc đáo xuất sắc của Mauss là đã nhận diện ra những loại hình kinh tế thị trường thời cổ sơ trong đó người ta lưu thông các vật phẩm và lương thực mà không cần thông qua sự buôn bán hay sử dụng tiền tệ. 
 Hai ngôn ngữ Papuasia và Melanesia của một số bộ lạc chỉ có một từ duy nhất để nói mua và bán, cho vay và vay.  “Những người này không có ý niệm về [việc] bán cũng như về [việc] cho vay và tuy thế vẫn làm các thao tác pháp lý và kinh tế có cùng chức năng” (tr. 273).
 Hệ thống wasi ở Melanesia (cũng tương tự như hệ thống kula) là một hệ thống kinh tế lưu thông và trao đổi vật phẩm mà không thông qua những hình thức và nguyên tắc của nền kinh tế thị trường thời hiện đại. “[Quan hệ của các wasi] thiết lập những trao đổi đều đặn, bắt buộc giữa các đối tác thuộc những bộ lạc nông nghiệp một bên và bên kia, các đối tác thuộc những bộ lạc ở dọc theo bờ biển. Người nông dân liên minh đem sản phẩm của mình đến đặt trước nhà của người đối tác làm nghề chài lưới. Người này, một lần khác, sau một mẻ cá lớn sẽ trả lại với lãi nặng cho làng làm nông bằng cá tôm mà anh ta đánh bắt được. Chính cùng hệ thống phân công lao động đó mà chúng ta đã nhận thấy ở New Zealand” (tr. 264-265).
 Mauss đưa ra một nhận xét súc tích đáng chú ý như sau : “Người Melanesia có một nền kinh tế bên ngoài gia đình và một hệ thống trao đổi rất phát triển với nhịp hoạt động có lẽ mạnh và dồn dập hơn so với hệ thống trao đổi của nông dân hay của các làng chài ở các vùng duyên hải của phương Tây cách đây có lẽ chưa đến trăm năm. Họ có một đời sống kinh tế trải rộng ra, vượt quá biên giới của các hải đảo và của các phương ngữ, một nền thương mại quan trọng. Thế nhưng, họ thay thế hoàn toàn hệ thống mua bán bằng các sự biếu tặng lẫn nhau” (tr. 272) (chúng tôi nhấn mạnh, T.H.Q.).
 Trên cơ sở đó, Mauss phê phán những xu hướng phiến diện và vị lợi (utilitariste) trong các lý thuyết kinh tế học và luật học vốn thường quan niệm một cách sai lầm về các nền kinh tế cổ sơ và đề cao một cách máy móc những lôgic của nền kinh tế thị trường hiện đại vốn chỉ mới xuất hiện gần đây trong lịch sử loài người, và quy giản con người chỉ là những “con vật kinh tế” (tr. 284, 429).
Cái “hau” hay sức mạnh của đồ vật
 Một chiếc “chìa khóa” quan trọng (tr. 201) để hiểu được cái “sức mạnh” trong đồ vật khiến người nhận quà tặng bó buộc phải đáp tặng cho người đã biếu mình, theo Mauss, chính là khái niệm “hau” (một từ của người Maori). Sở dĩ người ta buộc phải đáp tặng (do vậy quà tặng và của cải được lưu chuyển/lưu thông từ cộng đồng này sang cộng đồng khác) là do đồ vật có cái “hau” của nó, chứ đồ vật không phải là thứ vô hồn, vô tri vô giác. 
 Chúng ta có thể hiểu “hau” như cái hồn của đồ vật, hay thực ra là một phần hồn của người biếu tặng, vốn thường cũng là người đã chế tác ra đồ vật này. “Ngay cả khi bị người biếu từ bỏ, đồ vật vẫn là cái gì đó của anh ta. (...) cái hau muốn trở về nơi nó sinh ra, về với thánh địa của rừng và của thị tộc và về với người chủ sở hữu. (...) cần phải đáp tặng cho người khác cái gì vốn là một mảnh của bản chất và thực thể của người đó ; vì nhận cái gì của ai chính là nhận cái gì thuộc về bản thể tâm linh và linh hồn của người đó ; sự giữ lại đồ vật đó có thể sẽ nguy hiểm và có thể gây chết chóc...” (tr. 203-207).
Sự kiện xã hội tổng thể
 Một trong những công lao của Mauss là đề xướng ra khái niệm sự kiện xã hội tổng thể (fait social total),  trong khi nhà xã hội học Émile Durkheim, người cậu của Mauss, mới chỉ dừng lại ở khái niệm “sự kiện xã hội”. Nói đến một sự kiện xã hội tổng thể là nói rằng sự kiện này nằm trong một tổng thể (totalité), tức là nó mang tính đa chiều kích (kinh tế, văn hóa, pháp lý, đạo đức, tôn giáo, thẩm mỹ…) (tr. 178), nó “làm chuyển động” (mettent en branle) cả tổng thể xã hội và các định chế của xã hội này (xem khái niệm quan trọng này ở trang 434-437). 
 Chúng ta có thể lấy một thí dụ để minh họa cho khái niệm này : hành vi mua/bán chẳng hạn, không chỉ là hành vi kinh tế thuần túy, mà cần được coi như bao hàm nhiều chiều kích nữa như pháp lý, văn hóa, phong tục, tâm lý, ngôi thứ xã hội... 
 Về mặt phương pháp luận, Claude Lévi-Strauss cho rằng, đối với Mauss, sở dĩ sự kiện xã hội mang tính tổng thể còn là do “bản thân người quan sát cũng là bộ phận của sự quan sát của anh ta” (tr. 54). Lévi-Strauss diễn giải rằng cách tiếp cận của Mauss đã vượt qua sự lưỡng phân giữa chủ thể và khách thể, giữa người quan sát và đối tượng quan sát, vì một lý do quan trọng là trong khoa học xã hội, “đối tượng mà chúng nghiên cứu đồng thời cũng là chủ thể” (tr. 54). Lévi-Strauss giải thích lối tiếp cận này của Mauss như sau : “Để hiểu được một cách đúng đắn một sự kiện xã hội, cần phải nắm bắt nó một cách tổng thể, tức là [nắm bắt] từ bên ngoài và xem nó như là một vật, nhưng như là một vật mà sự nắm bắt chủ quan (có ý thức hay vô ý thức) mà chúng ta có được về nó là một bộ phận gắn liền với nó [tức vật này, T.H.Q.], nếu, với tư cách tất yếu là con người, chúng ta trải nghiệm sự kiện như là dân bản địa thay vì quan sát nó như là nhà dân tộc chí” [chúng tôi nhấn mạnh, T.H.Q.].  
Những cách đọc khác nhau và ý nghĩa gợi mở của LVBT
 Mặc dù nhìn nhận công lao to lớn của Mauss qua cuốn LVBT này là “khai trương một kỷ nguyên mới cho các khoa học xã hội” cũng tương tự như ngành âm vị học đối với ngành ngữ học (tr. 67), hay như công trình của Descartes từng làm cho “tim đập mạnh, đầu nóng lên” như thể “đang chứng kiến một sự cố quyết định của tiến triển khoa học” (tr. 63), nhưng Lévi-Strauss trách cứ Mauss là dường như vẫn chưa đi đến cùng trong việc khai thác những khám phá của mình (tr. 67), còn “do dự và đắn đo” (tr. 73). 
 Tuy vậy, Lévi-Strauss vẫn nhìn nhận Mauss “chủ yếu có lý” trong lập trường phương pháp luận của mình, theo lời Lévi-Strauss : “Lý thuyết bản địa ở trong một quan hệ với thực tại bản địa trực tiếp hơn rất nhiều so với một lý thuyết được lập ra từ các phạm trù và các vấn đề của chúng ta” (tr. 73). Nói cách khác, Mauss đã chọn con đường tiếp cận và phân tích xuất phát từ, và dựa trên cơ sở của những quan niệm, cách hiểu, và lôgic của chính người bản địa để đi đến chỗ xây dựng một lý thuyết khoa học, chứ không phải dựa trên những phạm trù và khái niệm có sẵn trong giới học thuật Tây phương của mình để áp đặt vào thực tại bản địa. 
 Theo Florence Weber, do LVBT là một thứ work in progress (một công trình đang tiến hành) (F. Weber, tr. 96), nên người ta có thể có nhiều cách đọc khác nhau đối với công trình này. Có tác giả như nhà xã hội học Pháp Pierre Bourdieu đã đưa ra một cách đọc bi quan, cho rằng bổn phận phải đáp tặng và nhất là khoảng thời gian giữa lúc biếu tặng với lúc đáp tặng thực ra phản ánh mối quan hệ thống trị khi nó “che đậy bạo lực đó dưới bề ngoài hào phóng không tính toán” (F. Weber, tr. 118). 
 Nhưng cũng có cách đọc lạc quan mà chúng tôi cho rằng người điển hình chính là... tác giả Mauss ! Mặc dù Mauss đã nêu ra những nhận xét chính xác về những tính chất lừa dối (fiction), nặng hình thức bề ngoài (formalisme), và sự dối trá xã hội (mensonge social) của hành vi biếu tặng trong những tình huống nhất định (tr. 178), và mặc dù chính ông cũng nói đến hiện tượng từ “gift” trong những ngôn ngữ Giéc-manh cổ vừa có nghĩa là quà tặng (như chữ gift trong tiếng Anh), vừa có nghĩa là chất độc (như chữ Gift trong tiếng Đức) (tr. 398-399), hay quan niệm của người An Nam cho rằng nhận quà tặng là điều nguy hiểm (tr. 401), nhưng ở phần kết luận, Mauss vẫn đi đến những nhận xét đề cao tính nhân văn trong các tập tục biếu tặng và đáp tặng của các xã hội cổ sơ và khuyến cáo con người của xã hội hiện đại cần biết cách trở về với tinh thần cổ sơ (tr. 413).
 Về mặt thực tiễn, đóng góp to lớn của Marcel Mauss qua cuốn LVBT là đã dẫn đến chỗ vượt qua quan niệm từ thiện và bố thí trong các chính sách xã hội và góp phần hình thành nên hệ thống bảo hiểm xã hội hiện đại ở Pháp (F. Weber, tr. 99). 
 Về mặt học thuật, theo đánh giá của nhà sử học Pháp Marc Bloch, cuốn LVBT thực sự là một cuộc cách mạng lý thuyết vì đã giúp cho các nhà sử học và các nhà xã hội học kể từ nay có thể cộng tác được với nhau (F. Weber, tr. 98). 
 Với khối lượng tư liệu đa dạng và những nhận xét sắc sảo, cuốn LVBT đã mở ra nhiều ý tưởng phong phú thúc đẩy nhiều trào lưu nghiên cứu khác nhau cho đến tận ngày nay về bản chất của các hiện tượng trao đổi, khế ước, quà tặng, về các mối liên hệ giữa ứng xử cá nhân với cấu trúc xã hội, về chiều kích xã hội của các hiện tượng kinh tế trong các cấu hình xã hội khác nhau…
TPHCM, ngày 6-6-2011
Bài đã đăng trên Tạp chí Khoa học xã hội, số 6 (154), 2011, trang 62-67
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.