• Tản mạn về Claude Lévi-Strauss

    Claude Lévi-Strauss (1908-2009) là một nhà nhân học lớn với sự nghiệp trước tác đồ sộ. Ông còn là nhà văn nổi tiếng với cuốn Tristes Tropiques (Nhiệt đới buồn). Năm 1955, Viện Hàn lâm Goncourt đã công khai tỏ ý tiếc không thể trao giải cho ông vì cuốn này không phải một cuốn tiểu thuyết mà là du ký! Bài viết này sẽ giới thiệu một số đóng góp quan trọng của ông như là một nhà triết học.

  • Ngôi sao khuê trong bầu trời Dân tộc học Việt Nam

    Ông là người được Bác Hồ giao cho làm Giám đốc trường Viễn Đông Bác Cổ (Tiếp quản của Pháp sau ngày 2/9/1945) và là Bộ Trưởng Bộ Giáo dục đầu tiên và giữ vị trí này lâu nhất (1946-1975) ở nước ta.

  • Alfred Louis Kroeber (1876 – 1960)

    Alfred L. Kroeber sinh tại Hoboken, New Jersey, Mỹ; có bằng cử nhân ngôn ngữ (tiếng Anh), thạc sĩ văn chương (kịch), nhưng lại theo đuổi nhân học dưới sự dẫn dắt của Franz Boas và là người nhận bằng tiến sĩ nhân học đầu tiên của Đại học Columbia (năm 1901).

  • Leslie Alvin White (1900 – 1975)

    Nhà nghiên cứu văn hóa người Mỹ, cha đẻ của thuyết Tiến hóa mới (1940) và là người đưa ra thuật ngữ “Culturology” (1949) với luận điểm: Đã đến lúc cần phải có một khái niệm có giá trị xác thực khoa học cho văn hóa; văn hóa cần có khoa học chuyên ngành chứ không thể chỉ được giải thích hạn hẹp trong khuôn khổ của tâm lý học, sinh vật học và sinh lý học.

  • Julian Haynes Steward (1902 – 1972)

    Julian Haynes Steward, sinh ngày 31 tháng 01 năm 1902 tại Washington, Mỹ, là Nhà nghiên cứu văn hóa người Mỹ, nổi tiếng với thuyết Tiến hóa đa hệ (Multilinear evolutionism) và là người đặt nền móng cho Sinh tháu học Văn hóa (Cultutal ecology) cũng như cho lý thuyết về sự biến đổi văn hóa (culture change).

  • Edward Sapir (1884 – 1939)

    Edward Sapir sinh ngày 26 tháng 1 năm 1884 ở Lauenberg, Prussia (Phổ), nay là vùng Lebork, Ba Lan, trong một gia đình Do Thái chính thống. Năm lên mười, E. Sapir theo gia đình di cư sang Mỹ, sống ở New York. Tại đây, ông là một trong những học sinh xuất sắc nhất trong số học sinh di cư ở New York, từng nhận học bỗng Pulitzer khi mới mười bốn tuổi. Khi vào học Đại học Columbia vào năm 1901, ngành ngữ văn Đức và ngôn ngữ Ấn – Âu, ông chỉ mất ba năm để hoàn thành chương trình cử nhân ngữ văn Đức (1904) và qua năm sau nhận học vị thạc sĩ chuyên ngành này.

  • Edward Bernett Tylor

    Edward Sapir sinh ngày 26 tháng 1 năm 1884 ở Lauenberg, Prussia (Phổ), nay là vùng Lebork, Ba Lan, trong một gia đình Do Thái chính thống. Năm lên mười, E. Sapir theo gia đình di cư sang Mỹ, sống ở New York. Tại đây, ông là một trong những học sinh xuất sắc nhất trong số học sinh di cư ở New York, từng nhận học bỗng Pulitzer khi mới mười bốn tuổi. Khi vào học Đại học Columbia vào năm 1901, ngành ngữ văn Đức và ngôn ngữ Ấn – Âu, ông chỉ mất ba năm để hoàn thành chương trình cử nhân ngữ văn Đức (1904) và qua năm sau nhận học vị thạc sĩ chuyên ngành này

  • Radcliffe-Brown

    Nhà nghiên cứu nhân học – xã hội người Anh, đi tiên phong trong việc nghiên cứu các mối quan hệ xã hội với tư cách là các hệ thống hữu cơ; cùng với Bronislaw Malinowski sáng lập ra Trường phái cơ cấu – chức năng (structural functionalism) và được coi là một trong những người khai sinh lý luận nhân học Anh hiện đại.

  • Margaret Mead

    Margaret Mead sinh ngày 16 tháng 12 năm 1901 tại Philadelphia, trong một gia đình Quaker có truyền thống học thuật. Cha của bà, Edward Sherwood Mead, là giáo sư đại học chuyên ngành tài chính – thương mại; mẹ của bà, Emily Fogg Mead, là nhà xã hội học chuyên nghiên cứu về dân Ý nhập cư và là người đấu tranh vì nữ quyền.

  • Ruth Benedict

    Ruth Fulton Benedict sinh ngày 5 tháng 6 năm 1887 tại New York. Thời trẻ, bà theo đuổi văn chương, sáng tác với bút danh Anne Singeton. Khi đã nhận học vị tiến sĩ nhân loại học Đại học Columbia và trở thành nhà nhân loại học nổi tiếng, bà vẫn tiếp tục sáng tác cho đến hết thập niên ba mươi của thế kỷ XX.

12